văn học trung quốc thời đường
Trước đó, bằng các biện pháp nghiệp vụ, Công an TP Hải Phòng phát hiện một số đối tượng ở Hải Phòng móc nối với các đối tượng ở các tỉnh Điện Biên, Nghệ An, Hà Tĩnh lập đường dây mua bán, vận chuyển trái phép ma túy với số lượng lớn từ nước ngoài về
Với mạng đường bay kết nối với Kazakhstan và các nước khu vực với Việt Nam, sẽ góp phần phát triển quan hệ kinh tế - thương mại - du lịch giữa Việt Nam với Kazakhstan và các quốc gia trong khu vực. Đường bay sẽ được Vietjet khai thác bằng tàu bay thân rộng A330 hiện
Đại học Vân Nam - Top trường trọng điểm quốc gia Trung Quốc: Du học Trung Quốc 2023, Chi phí du học, Kinh nghiệm du học, khó khăn chọn ngành học, HSK,IELTS mấy. Danh Mục. Thông tin Du học; Học Tiếng Trung Quốc; Văn hoá - Con người; Ẩm thực Trung Hoa;
VOV.VN - Báo chí Lào dẫn nguồn tin từ Thái Lan cho biết, ba nước Lào, Thái Lan và Trung Quốc đang xem xét xây dựng một cây cầu đường sắt mới để hỗ trợ vận chuyển contaner hàng hóa xuyên biên giới. Dự án xây dựng cầu đường sắt mới sẽ chạy song song với cầu Hữu
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Ngoại thương và Tôn giáo Ác-hen-ti-na Santiago Caflero. Trong bài phát biểu qua đường truyền video, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Ngoại thương và Tôn giáo Ác-hen-ti-na Santiago Caflero chỉ rõ, giao lưu hợp tác trong các lĩnh vực giữa Ác-hen-ti-na và Trung Quốc liên tục phát triển vào chiều sâu trong 50
Evay Vay Tiền. Tống từ là một thể loại văn học của Trung Quốc thịnh hành vào thời nhà Tống. Đây là một trong những thơ ca kiểu mới đối lập với thơ cổ. Tống từ là thành tựu lớn nhất trong cột mốc văn học triều Tống. Vậy đặc điểm và thể loại của loại hình văn học này ra sao? Hãy cùng ChineseRd đi sâu vào tìm hiểu nhé! Xem thêm Nghệ thuật Bonsai truyền thống ở Trung Quốc Giới thiệu chung về Tống từ Tống từ bắt đầu từ thời nhà Lương của Nam triều. Hình thành vào thời nhà Đường và phát triển mạnh mẽ vào thời nhà Tống. Thể loại này là viên ngọc sáng của văn học Trung Quốc cổ đại. Với sức hút đầy màu sắc và muôn hình vạn trạng của mình, Tống từ cạnh tranh với thơ Đường và Nguyên khúc. Loại hình văn học này được mệnh danh là “tuyệt tác”, song song với thơ Đường. Cả hai đều đại diện cho sự thịnh vượng của một thế hệ văn học. Tống từ được chia thành bốn loại chính dựa theo độ ngắn dài, loại nhạc, nhịp và làn điệu. Những nhà thơ tiêu biểu của thể loại này là Tô Thức, Tân Khí Tật phái phóng khoáng, Liễu Vĩnh và Lý Thanh Chiếu phái hàm súc. Có thể nói, Tô Thức là người đặt nền móng cuối cùng cho từ trữ tình truyền thống của người trí thức. Song, nhiều người cho rằng đây cũng là khởi đầu xuống dốc của sự phát triển lịch sử. Tống từ chỉ để gửi gắm tình yêu thiên nhiên và thể hiện ý chí. “Toàn Tống Từ” – Tuyển tập Tống từ Đây là một thể loại văn học âm nhạc. Sự ra đời, phát triển, sáng tác và lưu truyền của loại hình này có quan hệ mật thiết với âm nhạc. Nhạc được kết hợp với từ gọi là Yến nhạc. Yến nhạc là âm nhạc được biểu diễn bằng nhạc cụ ở yến tiệc thời Tùy Đường. Vào cuối thời nhà Đường, các nhà thơ có không gian phát triển mạnh mẽ. Nhà làm từ Ôn Đình Quân, Lý Dục và Phùng Đình Tỵ đã có cống hiến to lớn trong việc xây dựng phong cách trữ tình cho từ. Từ trở thành một trong những loại hình văn học nổi bật của Trung Quốc cổ đại, tạo cục diện mới ngoài thơ ca. Bước vào thời Tống, những sáng tác của từ trở nên hưng thịnh. Xuất hiện nhiều nhà làm từ nổi bật. Họ đã cho ra đời vô số kiệt tác với phong cách đa dạng. Tuy ra đời sớm nhưng từ phát triển hưng thịnh nhất là vào đời nhà Tống. Do đó, hậu thế cho từ làm văn học mang tính tiêu biểu nhất thời bấy giờ, xếp ngang với thơ ca nhà Đường. Từ đó sinh ra cách gọi “thơ Đường, Tống từ”. Học phái Tống từ chia ra làm hai phái lớn là phái hàm súc và phái phóng khoáng. Nội dung chính của phái hàm súc là coi trọng tình cảm của người con gái. Cấu tứ chặt chẽ, ngôn từ nhẹ nhàng, chú trọng âm luật và sự hài hòa. Nội dung khá hẹp. Do ảnh hưởng của từ nên sự uyển chuyển, hàm súc đã trở thành quan niệm chính của nhân dân lúc bấy giờ. Nhà làm từ nổi tiếng của phái hàm súc là Liễu Vĩnh và Lý Thanh Chiếu. Nhà làm từ Lý Thanh Chiếu Phạm vi sáng tác của phái phóng khoáng khá rộng. Thường sử dụng thủ pháp và cách dùng từ của nhà thơ để làm từ. Ngôn từ phóng khoáng, không gò bó, thiên về cảm tính, không tuân thủ âm luật. Phái phóng khoáng không chỉ “một mình một cõi”, mà còn gây chấn động giới làm từ đời Tống. Cho đến tận sau này, hậu thế vẫn học theo hai nhà làm từ nổi tiếng là Tô Thức và Tân Khí Tật. Tô Thức, Tân Khí Tật là nhà làm từ tiêu biểu của phái phóng khoáng. Nhà thơ nổi tiếng Tô Thức 1037 – 1101 Với thể loại đa dạng cùng nội dung hàm súc, cô đọng, Tống từ có đóng góp lớn cho nền văn học Trung Quốc cổ đại. Cùng với thơ ca Tiền Tần, thơ Đường, tiểu thuyết Minh Thanh,… Tống từ để lại cho hậu thế một kho tàng tác phẩm đồ sộ, có giá trị cao. Trên đây là giới thiệu của ChineseRd về Tống từ – loại hình văn học thịnh hành và hưng thịnh nhất đời nhà Tống, Trung Hoa cổ đại. Mong rằng thông tin trên sẽ giúp ích cho bạn! Tìm hiểu Thơ ca Tiền Tần – “Ngọn nguồn” của thơ ca truyền thống Trung Quốc
Thị Minh Phương Lê Thời cổ trung đại, Trung Quốc có một nền văn học rất phong phú. Từ thời Xuân Thu Chiến Quốc, văn học Trung Quốc đã bắt đầu phát triển. Đến thời Tây Hán tư tưởng Nho gia được đề cao. Nho gia là trường phái rất coi trọng việc học tập, vì vậy từ Hán về sau những người có thể cầm bút viết văn trong xã hội Trung Quốc rất nhiều. Đến thời Tùy Đường chế độ khoa cử bắt đầu ra đời, trong đó văn chương trở thành thước đo chủ yếu của tài năng; do đó văn học Trung Quốc càng có những thành tựu lớn lao. Văn học Trung Quốc thời kỳ này có nhiều thể loại như thơ, từ, phú, kịch, tiểu thuyết..., trong đó tiêu biểu nhất là Kinh Thi, thơ Đường và tiểu thuyết Minh - Kinh ThiKinh Thi là tập thơ ca đầu tiên và cũng là tác phẩm văn học đầu tiên của Trung Quốc, được sáng tác trong khoảng 500 năm từ đầu thời Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu. Thời đó, thơ cũng là lời của bài hát. Vì vậy, vua Chu và vua các nước chư hầu thường sai các viên quan phụ trách về âm nhạc của triều đình sưu tầm thơ ca của các địa phương để phổ nhạc. Những bài thơ sưu tầm, phần lớn được tập hợp lại thành một tác phẩm gọi là Thi. Trên cơ sở đó, Khổng Tử đã chỉnh lý lại một lần nữa. Đến thời Hán, khi Nho giáo được đề cao, Thi được gọi là Kinh Thi có 305 bài chia làm 3 phần là Phong, Nhã, Tụng. Phong là dân ca của các nước tên gọi là Quốc Phong. Nhã gồm có hai phần gọi là Tiểu Nhã và Đại Nhã. Nhiều người cho rằng Tiểu Nhã là những bài thơ do tầng lớp quý tộc nhỏ sáng tác, Đại Nhã là những bài thơ do tầng lớp quý tộc lớn sáng tác. Còn Tụng bao gồm Chu Tụng, Lỗ Tụng và Thuông Tụng là những bài thơ do các quan phụ trách tế lễ và bói toán sáng tác dùng để hát khi cúng tế ở miếu các phần đó, Quốc Phong có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao nhất. Bằng lời thơ gọn gàng thanh thoát mộc mạc nhưng đầy hình tượng, những bài dân ca này đã mỉa mai hoặc lên án sự áp bức bóc lột và cảnh giàu sang của giai cấp thống trị, nói lên nỗi khổ cực của nhân dân. Ví dụ, trong bài Chặt gỗ đàn có đoạn viết Không cấy không gặt,Lúa có ba bắn không săn,Sân treo đầy ngài quân tửChớ ngồi ăn nhiên, chiếm tỉ lệ nhiều nhất và hay nhất là những bài thơ mô tả tình cảm yêu thương gắn bó hoặc buồn bã nhớ nhung hoặc bâng khuâng mong đợi giữa trai gái vợ chồng. Ví dụEm đi cắt dây sắn mới một ngày,Mà tưởng ba tháng này không được thấy mặt nhau,Em đi cắt cỏ hương mới một ngày,Mà tưởng ba thu này không được thấy mặt nhau,Em đi hái ngải cứu mới một ngày,Mà tưởng ba năm này không được thấy mặt nhau.Cắt cây sắn dây - Vương PhongLà một tập thơ được sáng tác trong 5 thế kỷ, Kinh Thi không những chỉ có giá trị về văn học mà còn là một tấm gương phản ánh tình hình xã hội Trung Quốc đương thời. Ngoài ra tác phẩm này còn được các nhà Nho đánh giá cao về tác dụng giáo dục tư tưởng của nó. Chính Khổng Tử đã nói“Các trò sao không học Thi? Thi có thể làm cho ta phấn khởi, có thể giúp ta mở rộng tầm nhìn, có thể làm cho mọi người đoàn kết với nhau, có thể làm cho ta biết oán giận. Gần thì có thể vận dụng để thờ cha, xa thì thờ vua. Lại biết được nhiều tên chim muông cây cỏ”. Luận ngữ - Dương hóa.b Thơ ĐườngThời kỳ huy hoàng nhất của thơ ca Trung Quốc là thời Đường 618-907. Trong gần 300 năm tồn tại, thời Đường đã để lại tên tuổi của trên nhà thơ với gần tác với sự thăng trầm về chính trị, thời Đường được chia thành 4 thời kỳ là Sơ Đường 618-713, Thịnh Đường 713766, Trung Đường 766-827 và Văn Đường 827-904. Thịnh Đường chủ yếu là thời kỳ trị vì của Đường Huyền Tông với hai niên hiệu Khai Nguyên 713-741 và Thiên Bảo 742-755. Đây là thời kỳ tương đối ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế, đặc biệt đây là thời kỳ phát triển rất cao về văn Đường không những có số lượng rất lớn mà còn có giá trị rất cao về tư tưởng và nghệ thuật. Hơn nữa, đến thời Đường, thơ Trung Quốc cũng có một bước phát triển mới về luật nhà thơ đời Đường sáng tác theo 3 thể Từ, Cổ phong, Đường là một loại thơ đặc biệt ra đời giữa đời Đường, kết hợp chặt chẽ với âm nhạc. Vì viết theo những điệu có sẵn nên sáng tác từ thường gọi là điền phong là thể thơ tương đối tự do, không bị ràng buộc về số chữ trong một câu nhưng thường là 5 và 7 chữ, số câu trong bài, về cách gieo vần có thể gieo cả vần trắc lẫn vần bằng, về niêm, luật, đối tuy vậy cũng có bài tiếp thu một số yếu tố của thơ luật để tạo nên các kiểu trung gian.Đường luật gồm 3 dạng chính bát cú tám câu, có thể là “thất ngôn” hoặc “ngũ ngôn”, tuyệt cú bốn câu và bài luật còn gọi là trường luật, có nghĩa là một bài thơ luật kéo dài. Có thể coi thất ngôn bát cú là dạng cơ bản vì từ nó có thể suy ra các dạng số các thi nhân đời Đường còn lưu tên tuổi đến ngày nay, Lý Bạch, Đỗ Phủ thuộc thời Thịnh Đường và Bạch Cư Dị thuộc thời Trung Đường là ba nhà thơ tiêu biểu Bạch 701-762 là một người tính tình phóng khoáng, thích tự do, không chịu được cảnh ràng buộc luồn cúi. Do vậy, tuy học rộng tài cao nhưng ông không hề đi thi và chưa làm một chức quan gì chính thức cả. Ông lại là một người yêu quê hương đất nước và rất thông cảm với nỗi khổ cực của nhân dân lao động, do vậy thơ của ông phần lớn tập trung miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên, đồng thời có nhiều bài phản ánh đời sông của nhân dân. Đặc điểm nghệ thuật thơ Lý Bạch là lời thơ đẹp và hào hùng, ý thơ có màu sắc của chủ nghĩa lãng mạn. Bài thơ “Xa ngắm thác núi Lư” sau đây là một ví dụNắng rọi hương Lô khói tía bay,Xa trông dòng thác trước sông nàyNước bay thẳng xuống ba nghìn thước,Tưởng dải Ngân hà tuột khỏi Phủ 712-770 xuất thân từ một gia đình quan lại nhỏ sa sút. Bản thân ông mặc dù học rất rộng nhưng thi không đỗ, mãi đến năm 40 tuổi mới làm mấy chức quan nhỏ trong 7 năm. Tuy vậy suốt đời ông phải sống trong cảnh nghèo nàn. Cuộc đời lận đận đó đã giúp ông hiểu thấu cuộc sống khổ cực của nhân dân, do đó phần lớn thơ của Đỗ Phủ đều tập trung miêu tả những cảnh bất công trong xã hội, miêu tả cảnh nghèo khổ và những nỗi oan khuất của nhân dân lao động, vạch trần sự áp bức bóc lột và xa xỉ của giai cấp thống trị. Ví dụ trong bài thơ “Từ kinh đô về huyện Phụng Tiên” ông đã mô tả tỉ mỉ với dụng ý tố cáo cảnh xa hoa phè phỡn của Đường Huyền Tông, Dương Quý Phi và cả tập đoàn quý tộc ở Ly Sơn với những câuBóng đèn ngọc chập chờn sáng rựcQuan Vũ lâm chầu chực đông sao!Vua tôi sung sướng xiết baoKẻ ra bàn tắm người vào bàn mây khói lồng che mặt ngọcNhững nàng tiên ngang dọc thềm trongÁo cừu điêu thử người dùngĐàn vang sáo thét, não nùng sướng taiMóng dò ninh người xơi rỉm rótThêm chanh chua, quất ngọt, rượu tiếp sau đó ông nêu lên cảnh trái ngược trong xã hộiCửu son rượu thịt để ôiCó thằng chết lả xương phơi ngoài bài thơ có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao như vậy của Đỗ Phủ rất nhiều, vì vậy ông được đánh giá là nhà thơ hiện thực chủ nghĩa lớn nhất đời Cư Dị 772-846 xuất thân từ gia đình địa chủ quan lại, năm 26 tuổi đậu Tiến sĩ, đã làm nhiều chức quan to trong triều, nhưng đến năm 44 tuổi thì bị giáng chức làm Tư Mã Giang Cư Dị đã đi theo con đường sáng tác của Đỗ Phủ, đã làm nhiều bài thơ nói lên nỗi khổ cực của nhân dân và lên án giai cấp thống trị. Thơ của Bạch Cư Dị không những có nội dung hiện thực tiến bộ mà có nhiều bài đã đạt đến trình độ rất cao về nghệ thuật. Đáng chú ý hơn nữa là trong những bài thơ lên án giai cấp thống trị, ông đã dùng những lời lẽ khi thì chua cay, khi thì quyết liệt. Ví dụ lên án sự ức hiếp tàn nhẫn của các quan lại đối với nhân dân trong việc thu thuế, trong bài “Ông già Đỗ lăng” ông đã viết Quan trên biết rõ mà không xét,Thúc lấy đủ tô cầu lập đất cầm dâu nộp cho đủ,Cơm áo sang năm trông vào đâu?Lột áo trên mình ta,Cướp cơm trong miệng ta,Hại người hại vật là hùm sói,Cứ gì cào móng nghiến răng ăn thịt khi bị giáng chức, ông trở nên bi quan nên tính chiến đấu ở trong những bài thơ cuối đời của ông không được mạnh mẽ như trước nữa. Mặc dầu vậy, ông vẫn là một nhà thơ hiện thực chủ nghĩa lớn của Trung Quốc thời lại, thơ Đường là những trang rất chói lọi trong lịch sử văn học Trung Quốc, đồng thời, thơ Đường đã đặt cơ sở nghệ thuật, phong cách và luật thơ cho nền thi ca Trung Quốc các thời kỳ sau này. Thơ Đường cũng có ảnh hưởng lớn đến thơ ca Việt Tiểu thuyết Minh - ThanhTiểu thuyết là một hình thức văn học mới bắt đầu phát triển từ thời Minh - Thanh. Trước đó, ở các thành phố lớn thường có những người chuyên làm nghề kể chuyện, đề tài của họ thường là những sự tích lịch sử. Dựa vào những câu chuyện ấy, các nhà văn đã viết thành các tiểu thuyết chương hồi. Những tác phẩm lớn và nổi tiếng trong giai đoạn này là Truyện Thủy hử của Thi Nại Am, Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Tây du ký của Ngô Thừa Ân, Nho Lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử, Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần Thủy hử kể lại cuộc khởi nghĩa nông dân của Lương Sơn Bạc do Tống Giang lãnh đạo. Qua tác phẩm này, tác giả không những đã thuật lại rõ ràng quá trình diễn biến của cuộc khởi nghĩa mà còn hết sức ca ngợi tài trí và sự dũng cảm của các vị anh hùng nông dân, do đó thời Minh - Thanh, tác phẩm này bị liệt vào loại sách cấm. Mặc dầu vậy, những câu chuyện của các anh hùng Lương Sơn Bạc vẫn được lưu truyền trong nhân dân và đã có tác dụng cổ vũ rất lớn đối với sự đấu tranh của nông dân chống sự áp bức bóc lột của giai cấp phong quốc chí diễn nghĩa bắt nguồn từ câu chuyện ba người Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi kết nghĩa ở vườn đào lưu truyền trong dân gian. Nội dung miêu tả cuộc đấu tranh về quân sự, chính trị phức tạp giữa ba nước Ngụy, Thục, du ký viết về chuyện nhà sư Huyền Trang và các đồ đệ tìm đường sang Ấn Độ lấy kinh Phật, trải qua rất nhiều gian nan nguy hiểm ở dọc đường, cuối cùng đã đạt được mục đích. Tác giả đã xây dựng cho mỗi nhân vật của tác phẩm một tính cách riêng, trong đó nổi bật nhất là Tôn Ngộ Không, một nhân vật hết sức thông minh, mưu trí, dũng cảm và nhiệt tình, đồng thời qua Tôn Ngộ Không, tính chất chống phong kiến của tác phẩm được thể hiện rõ lâm ngoại sử là một bộ tiểu thuyết trào phúng viết về chuyện làng nho. Qua tác phẩm này, Ngô Kính Tử đả kích chế độ thi cử đương thời và mỉa mai những cái xấu xa của tầng lớp trí thức dưới chế độ thi cử lâu mộng giấc mộng lầu hồng viết về câu chuyện hưng suy của một gia đình quý tộc phong kiến và câu chuyện yêu đương giữa một đôi thiếu niên, nhưng qua đó, tác giả đã vẽ nên bộ mặt của xã hội phong kiến Trung Quốc trong giai đoạn suy tàn. Bằng cách xây dựng cho hai nhân vật chính của tác phẩm là Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc tính cách chống đối chế độ thi cử, chế độ quan trường, đạo đức và lễ giáo phong kiến, khát vọng tự do và hạnh phúc, đồng thời dành cho những người thuộc tầng lớp bị coi là thấp kém những tâm hồn cao đẹp và tình cảm chân thành, tác giả đã đánh trực tiếp và khá mạnh vào hệ ý thức của giai cấp phong kiến lúc bấy giờ. Vì vậy, Hồng lâu mộng được đánh giá là tác phẩm có giá trị nhất trong kho tàng văn học hiện thực cổ điển Trung Quốc 0 Trả lời 10/11/21
Có thể bạn quan tâmHọc bằng lái mô tô bao nhiêu tiền?Các chuyến du ngoạn từ california tháng 12 năm 2023Học phí Hutech tăng bao nhiêu 1 năm?Cho các khí có bao nhiêu khí nặng hơn không khí h 1 c 12 n 14 o 16 cl 35 5Thời tiết ở Đê-li trong Tháng hai 2023 là gì?Thành tựu của văn học Trung QuốcBạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây KB, 29 trang THÀNH TỰU VĂN HỌC CỦA TRUNG QUỐCMỞ ĐẦUTrong nền văn học thế giới, văn học Trung Quốc nổi lên như một nền văn học lớn, có lịch sử lâu dài và ngày càng phát triển với nhiều thành tựu rực rỡ. Văn học Trung Quốc phát triển với nhiều loại hình đa dạng và nội dung sâu sắc cùng với tên tuổi nhiều tác giả nổi tiếng thế giới. Việc tìm hiểu văn học Trung Quốc là hết sức cần thiết để hiểu thêm về nền văn học này cũng như xác định vị thế của nó. Cho đến ngày nay, những thành tựu mà văn học Trung Quốc đạt được đã có nhiều giá trị to lớn đóng góp vào nền văn học thế Quốc có một nền văn học phong phú lâu đời, liên tục 5 nghìn năm. Ngay từ trước công nguyên thời cổ đại nền văn học này đã có những thành tựu rực rỡ như thần thoại, Kinh Thi, văn xuôi triết học, Sở từ, Sử ký Sang thời trung đại, Phú thời Hán, Thơ thời Đường, Từ thời Tống và tiểu thuyết thời Minh,Thanh là các thành tựu văn học rực văn Lỗ Tấn đóng vai trò mở đầu nền văn học hiện đại. Sau đó văn học hiện đại của cách mạng vô sản diễn ra khá phức tạp, chỉ có được thành tựu đáng kể nhất từ giai đoạn Đổi Mới trong hai thập kỷ cuối thế kỉ DUNGI. NHỮNG THÀNH TỰU TIÊU BIỂU CỦA VĂN HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐIỂN học thời cổ đại Trung Quốc có một nền văn học phong phú đặc sắc vào bậc nhất trên thế học dân gian Trung Hoa thời cổ đại chắc chắn rất phong phú nhưng chỉ số ít còn giữ được đến ngày nay, trong số đó có một số ghi trong sách cổ hoặc các đồ vật Thần thoại, truyền thuyếtThần thoại và truyền thuyết được ghi trong sách cổ cũng là văn học truyền miệng trong thời kì xã hội thị tộc. Nội dung được ghi chép thường đơn giản. Sau này, đọc các bản phóng tác của nhà văn hiện đại thì câu chuyện phong phú kỳ thú hơn. Ví dụ các truyện Nữ Oa vá trời, Hậu Nghệ bắn mặt trời, Hằng Nga lộng nguyệt, Tinh Vệ lấp biển, Ngưu lang Chức nữ, vua Vũ trị thủy . Thần thoại Trung quốc tìm cách giải thích các hiện tượng tự nhiên, như mặt trời, mặt trăng mây gió đến cây cỏ, chim muông. ặc biệt những truyện nói về nguồn gốc trái đất và muôn loài đã được hư cấu thật tài tình. Gạt bỏ những chi tiết hoang đường, chúng ta hiểu được gần đúng tình cảnh người thời nguyên thuỷ, ăn hang ở lỗ, dần dần tìm ra lửa, biết đánh cá, săn muông thú, trồng trọt và chăn nuôi. Thần thoại tin rằng các vị thần có công lao hướng dẫn con người làm được những thành công vĩ đại dung truyền thuyết thì gần gũi với con người hơn. Những nhân vật như vua Hoàng ế, vua Nghiêu, vua Thuấn và vua Vũ được coi là nhân vật lịch sử có thật, được thêu dệt tô điểm thành huyền thoại. ó là những vị anh hùng không hề chịu bó tay trước thiên nhiên hung dữ, khắc nghiệt luôn luôn gây tai hoạ cho người. Họ có sức mạnh ghê gớm để khắc phục khó khăn gian khổ hoặc tranh đấu đến chết đối với các lực lượng tự nhiên tàn thoại và truyền thuyết Trung quốc phản ánh những niềm khát vọng của người lao động thời đó. Họ muốn giảm nhẹ công việc nặng nhọc, tăng năng suất, sống thoải mái trong tình thương yêu đồng thoại truyền thuyết có ảnh hưởng rất lớn đến văn học đời sau. Khuất Nguyên nhà thơ thời Chiến quốc đã dùng hình ảnh thần thoại cho thơ. Các nhà thơ thời Đường như Lý Bạch hay dùng thần thoại, truyền thuyết để trang bị cho thơ của mình một không khí lãng mạn, phóng khoáng, Lý Thương Ẩn, ỗ Mục cũng thường nhắc đến Hằng Nga, Chức Nữ tượng trưng cho người đẹp xa vời. Còn trong tiểu thuyết cổ điển như Tây Du ký, Phong thần diễn nghĩa, Liêu Trai chí dị, tác giả cũng sử dụng bút pháp thần thoại truyền thoại được coi là cuốn lịch sử đầu tiên của lịch sử Trung Hoa. ến nhà Chu mới chính thức có lịch sử ghi chép và nền văn học viết. Thần thoại Trung quốc gồm nhiều truyện vụn vặt, lẻ tẻ Ấn ộ và Hi lạp, sau giai đoạn thần thoại, phát sinh thể loại sử thi anh hùng ca kết nối các thần thoại và phát triển tiếp, do đó thần thoại Ấn ộ và Hi Lạp được truyền lại đời sau trong một hình thức đầy đủ và hoàng tráng hơn. Tuy vậy, thần thoại Trung Quốc cũng gây ảnh hưởng lâu dài đến nền văn học Trung Hoa suốt hàng ngàn năm sau. Thần thoại đã biến thành điển cố, điển tích và gây nguồn cảm hứng cho nhiều văn nghệ sĩ đời Kinh ThiTiêu biểu nhất trong kho tàng thơ ca cổ đại là tập Kinh Thi gồm khoảng 300 bài thơ có vị trí đặc biệt trong nền văn học và giáo dục Trung Thi là tập thơ đầu tiên của Trung Quốc, sáng tác trong khoảng thời gian hơn năm trăm năm, cách đây khoảng hai ngàn năm trăm năm. Đến thế kỷ 6 trước CN sưu tầm khoảng ba trăm bài, được soạn thành tập. Về sau Khổng Tử biên soạn thành sách gọi là Kinh Thi dùng làm sách giáo khoa trong bộ Ngũ kinh. Ông coi trọng việc học thơ nhằm xây dựng tình cảm đạo đức và tạo cho lời nói thêm hoa mỹ. Ông nói "Không học Kinh Thi thì không biết nó" Luận Ngữ. Thơ có thể làm cho mọi người phấn chấn, đoàn kết với nhau, bộc lộ lòng bất mãn, phẫn uất của mình và tham khảo phong tục đất nước. Theo truyền thuyết, lúc đầu Kinh Thi có tới 3000 bài, sau rơi rụng dần chỉ còn hơn 300 bài. Kinh Thi gồm ba phần Phong, Nhã, Tụng. Phong còn gọi là quốc phong, có 160 bài. Đó là ca dao, dân ca của 15 nước nhỏ. Đó là tác phẩm của miền Bắc gồm lưu vực sông Hoàng Hà, Trường Giang, trung tâm văn hóa của Trung Quốc thời bấy giờ. Nhã Gồm tiểu nhã và đại nhã còn gọi nhị nhã, có 105 nhã Những bài dùng trong trường hợp các buổi yến tiệc quý tộc 74 thiên. Đó là thơ ca của giới quý tộc đại phu làm trong những dịp triều hội, yến tiệc nói về quan hệ tốt đẹp giữa vua và các nghi thức tiếp tân giữa chủ và khách Đại nhã những bài dùng trong trường hợp quan trọng như khi Thiên tử họp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường 31 thiên. Tụng Là những bài tán tụng, ca ngợi dùng lúc tế lễ thần linh, thái miếu, hơn 100 bài, giống như văn tế sau này. Tụng gồm có Chu tụng, Lỗ tụng và Thương tụng gọi là tam tụng sáng tác ở ba nước Chu, Lỗ và Thương. Nghiên cứu Kinh Thi, người đọc hiểu được phong tục tập quán, tình hình xã hội và khuynh hướng tư tưởng của từng vùng và từng giai tầng xã hội. Đại bộ phận quốc phong và một phần Tiểu nhã, một phần Đại nhã có tính nhân dân và tính phê phán cao là sáng tác của người bình dân lao động. Còn Tụng và phần còn lại của Nhị nhã là sáng tác của giới quý tộc nhằm ca tụng giai cấp thống trị. Có ý nghĩa nhất đối với chúng ta ngày nay là "quốc phong" và một số bài trong Tiểu nhã. Đó thực sự là văn học dân gian chân chính của Trung Quốc cổ đại. Các bài ca dao, dân ca trong quốc phong là sáng tác của nhân dân lao động, ca hát về công ăn việc làm của họ, tâm tình, cảm xúc của người nghèo khổ bị áp bức bóc lột. Họ phải làm lụng cực nhọc để nuôi bọn lãnh chúa sống giàu sang, nhàn hạ. Ví dụ bài " Thất Nguyệt " như sau Tháng giêng sửa soạn cày bừa, tháng hai ra đồng cày ruộng, tháng ba trồng dâu nuôi tằm, tháng tư, tháng năm đi hái trái viễn chín làm thuốc, tháng sáu hái lê và mận,tháng bảy nấu quỳ đậu hái dưa, tháng tám hái bầu, chặt lau sậy, gặt hái, dệt vải, tháng chín hái mè, đàn bà may quần áo lạnh cho nhà chủ, đàn ông đập lúa, tháng mười nạp tô, tháng mười một đi săn chồn, tháng mười hai săn thú lớn, đục băng cất đi cho chủ ăn mùa hè cho thơ còn tả những cách thức bóc lột của bọn lãnh chúa. Thỉnh thoảng chen những tiếng thở dài, giọng thơ thường kết thúc mỉa mai, cay đắng, oán tài chiến tranh trong Kinh Thi cũng khá phong phú. Phản ánh nỗi khổ cực do chiến tranh thời Xuân Thu gây ra cho người lao động. Họ phải bỏ làng xóm, việc cày cấy và gia đình để đi tham gia các cuộc viễn chinh. Những nỗi buồn khổ của chinh phu, chinh phụ thể hiện trong các bài Đông Sơn, Thái giống như ca dao dân ca nước Việt, Kinh Thi gồm rất nhiều bài ca tình yêu. Lời lẽ hồn nhiên thẳng thắn chất phác, mạnh dạn và tình cảm chân thành. Mở đầu Kinh Thi là bài " Quan thư" bài thơ tình yêu, bộc lộ những nỗi vui buồn thương nhớ, ước mong và yêu đương Tình yêu của người bình dân hồi ấy thật trong sáng, ngây thơ. Mùa xuân trai gái vui chơi trên bờ sông hái cỏ thơm tặng nhau, tỏ tình. Con gái tỏ tình bằng cách mời anh nhảy múa. Những cuộc hò hẹn, cô gái đến trước, nấp một nơi để chứng kiến nỗi bứt rứt đau khổ của người yêu. Thơ tình yêu cũng đã lên tiếng oán trách hoặc phản đối luân lý, lễ giáo, luật lệ khắc nghiệt thời cổ đại. Từ khi yêu đương đến cuộc hôn nhân và đời sống gia đình, người phụ nữ thường bị hạn chế, chịu thiệt thòi suốt đời. Họ viết những vần thơ cảm động, ai thi được coi là sách kinh điển của học đường và nhà nho nên chủ đề tình yêu của người lao động bình dân ít được chú ý. Những bài ca tình yêu do giới quí tộc cung đình soạn ra trong Đại Nhã được ca tụng nhiều hơn.*Nghệ thuật kinh thiCó 5 biện pháp dùng trong Kinh Thi Phú là phô bày , là nói thẳng sự việc ra, nghĩ thế nào thì nói thế ấy. Tỷ là so sánh, ví von, chẳng hạn "nhánh cỏ non" ví với bàn đẹp, "ngọc" ví với người hiền tài . "Tỷ"cùng gần giống với biện pháp tượng trưng. Như bài thơ Thạc thử đánh chuột kẻ chuyện bọn chuột tham lam tàn nhẫn cần phải diệt chúng nhưng ta hiểu rằng chuột là bọn lãnh chúa, quan lại tham nhũng. Hứng nói sự việc này để dẫn đến sự việc khác mình muốn nói. Ví dụ tả cảnh "chim gù nhau" để nói chuyện trai gái tìm lứa đôi, nói "quả mơ rụng' đẻ chỉ việc năm tháng trôi qua, tuổi xuân sắp hết, nói " thuyền trôi nổi giữa dòng sông" để dẫn đến chuyện mối tình dang dở. Đến ngày nay ba cách ấy đã thông dụng trong ngôn ngữ văn chương. Kinh Thi là tập thơ đầu tiên của Trung Quốc đã sử dụng thành thạo nên ta phải kể đó là đặc sắc nghệ thuật của giai đoạn này. Người làm thơ quả là có cái nhìn mới mẻ, óc tưởng tượng dồi dào, sự liên tưởng đột ngột rất nên thơ. Có khi cả ba biện pháp tu từ đó được dùng xen kẽ trong một bài. Như bài Quan Thư gồm năm đoạn. Đoạn 1 có thể hứng và tỷ, đoạn 2 theo thể hứng, đoạn 3 theo lối phú, đoạn 4 và 5 lại theo thể hứng. Kết cấu xướng họa, thường dùng trong các bài ca lao động tươi vui đối đáp của các cô gái hái cấu trùng điệp trong Kinh Thi thường theo cách " trùng chương, điệp cú" lặp đoạn, lặp câu, lặp hình ảnh, lặp từ ngữ, âm điệu . Trùng điệp làm tăng cường độ diễn đạt. Nhạc điệu rất giàu có trong Kinh Thi. Có bài là dân ca, có bài là thơ được phổ nhạc. Ngày nay, phần âm nhạc đã mất đi, chỉ còn lời với tiết tấu vần điệu của ngôn ngữ nghe vẫn êm tai, dễ nghe. Lời trong bài được chọn lọc, tinh xảo. Khi sưu tầm, lời thơ có thể được nhuận sắc gọt sửa cho hay hơn, dễ nhớ hơn. Do đó, về sau trong ngôn ngữ giao tiếp người ta hay chêm một câu Kinh Thi như là một dạng tục ngữ, thành ngữ; Trong sáng tác văn học, người ta sử dụng Kinh Thi như là điển tích điển Thi xưa nay được xem là một tác phẩm văn học cổ điển vĩ đại có ảnh hưởng rất lớn đối với nền văn học Trung Quốc. Kinh Thi còn có giá trị hiện thực cao, được coi là tác phẩm mở đầu cho văn học hiện thực Trung Khuất Nguyên và Sở từ Khuất Nguyên là nhà thơ được nhân dân Trung Quốc kính trọng nhất và yêu thích nhất trong hàng nghìn năm nay. Ông sống vào thời kỳ Chiến Quốc từ năm 475 đến năm 221 trước công nguyên . Cái gọi là Chiến Quốc là vì đây là một thời đại các nước chư hầu san sát, hỗn chiến không ngừng. Trong đó nước Tần và nước Sở là hai nước có thực lực lớn mạnh nhất lúc đó. Mười mấy nước nhỏ khác đều dựa vào hai nước Nguyên là quý tộc nước Sở, và đảm nhiệm chức quan cấp cao. Ông có học thức uyên bác, giỏi về ngoại giao, ban đầu, ông được nhà vua nước Sở ưa thích và tin tưởng. Trong thời đại đó, nhà vua và quyền quý các nước đều tranh nhau thu hút nhân tài phục vụ cho mình, cho nên họ tiếp đãi nhân tài một cách lễ phép. Lúc đó, nhiều người có học thức nổi tiếng đều du thuyết ở các nước, nỗ lực hết sức nhằm thực hiện lý tưởng chính trị của mình. Nhưng Khuất Nguyên không như vậy, ông rất quyến luyến tổ quốc, mong phụ tá nhà vua nước Sở bằng tài hoa của mình, khiến nước Sở chính trị dân chủ, thực lực nhà nước mạnh mẽ. Với lý tưởng như trên, Khuất Nguyên cho đến chết cũng không muốn rời khỏi tổ quốc. Điều đáng tiếc là, vì Khuất Nguyên có mâu thuẫn gay gắt với tập đoàn quý tộc hủ bại nước Sở về mặt nội chính và ngoại giao, hơn nữa lại bị người khác vu cáo hãm hại, Khuất Nguyên bị nhà vua nước Sở xa lánh, sau đó, địa vị nước lớn và thực lực nhà nước mạnh mẽ của nước Sở dần dần suy sụp. Năm 278 trước công nguyên, quân đội nước Tần đánh phá Dĩnh Đô, thủ đô nước Sở. Nước tan nhà tan, Khuất Nguyên không chịu nổi nỗi căm phẫn, nhảy xuống sông tự đến Khuất Nguyên, người ta nhớ đến ngay thể Từ hay còn gọi là Sở Từ, và nhắc đến thể Từ, người ta không thể không nghĩ ngay đến tác phẩm Ly Tao nổi tiếng của ông. Có thể nói, trong lịch sử văn học Trung Quốc, tên tuổi và địa vị của Khuất Nguyên là không thể thay thế, làm rạng rỡ cả một nền văn học. Thể Từ cũng được coi là cơ sở của Hán Phú sau này, là bước đột phá trong lịch sử văn học Trung Quốc khi phá vỡ quy luật thông thường của tác phẩm trong tuyển tập Kinh Thi. Thể Từ, hay còn gọi là Sở Từ, cùng với những giá trị mỹ học, giá trị lịch sử gắn liền với văn hóa, chính trị của nước Sở thời Chiến Quốc và nhất là tấm gương bất khuất kiên cường của Khuất Nguyên đã để lại dấu ấn vô cùng riêng biệt."Sở từ" là một thể thơ mới sau Kinh Thi, nó xuất hiện vào thời Tây Hán. Người thời Hán thường gọi "Sở từ" là " phú", kì thực bất luận là thể thức hoặc từ tính chất mà nói, cả hai đều không giống từ là sản vật của văn hóa Sở, sự sản sinh Sở từ, đầu tiên nó có mối quan hệ trực tiếp với Sở thanh, Sở ca, thứ đến, nó có quan hệ với "vu ca" của dân gian nước Sở. Cửu ca mà Khuất Nguyên sáng tác là trên cơ sở nhạc ca tế thần dân gian có sự gia công mà thành. Thêm vào đó, trong Sở từ đã miêu tả nhiều phong tục sản vật của đất Sở, sử dụng nhiều phương ngôn đất ra, sự hỗ trợ tương thâm nhập của văn hóa Nam Bắc, văn hóa và chế độ tiên tiến của trung nguyên cũng đã dần được văn hóa Sở tiếp nhận. Phong khí tường thuật hoa lệ của các Tung hoành gia thời Chiến quốc cũng có ảnh hưởng không nhỏ đối với Sở thể thức mà nói, trên thực tế Sở từ có 2 loại-Một loại giống Thi kinh nhưng có sự cải tạo, như Quất tụng, Thiên vấn, cơ bản là thể " tứ ngôn".-Một lọa khác là "tao thể" láy Li tao, Cửu ca làm đại biểu, đây là dạng thức điển hình của Sở Sơ từ điển hình nhìn từ thi phong có sự phô bày khoa trương, sự tưởng tượng phog phú. tác phẩm của Khuất Nguyên tràn đầy sự tưởng tượng kì ảo, bộc lộ lớp lớp tình cảm chân thành như Li tao, miêu tả phô trương sự vật như Chiêu hồn. Còn tác phẩm của Tống Ngọc đã tiến thêm một bước về phương diện tự sự miêu tả. Từ ngôn ngữ mà nói, Sở từ đa phần dùng Sở ngữ, Sở thanh; từ ngữ phương ngôn đất Sở xuất hiện với số lượng lớn. *Tác phẩm tiêu biểu của Khuất Nguyên cũng như thành tựu lớn lao nhất của Sở Từ Li tao là bài thơ dài nhất của Khuất Nguyên, gồm 373 câu và là tác phẩm tiêu biểu nhất, trong đó ông trình bày lý tưởng ông theo đuổi, thổ lộ nỗi phẫn uất trước hiện thực đen tối của xã hội, nêu cao tinh thần đấu tranh bất khuất, bộc lộ lòng yêu nước, thương dân nồng nàn của mình và ý chí thà chết chứ không chịu sống hèn, sống đục. Nhà sử học Tư Mã Thiên đời Hán giải thích Li tao là li ưu, tao là lo, lo buồn trong chia li Một nhà viết sử đời Hán khác, Ban Cố, lại giải thích Li là gặp phải, tao là lo âu. Nhà thơ gặp phải điều lo âu mà viết ra những vần thơ này. Hai cách giải thích khác nhau nhưng thống nhất rằng nhà thơ đã bày tỏ nguyên nhân khiến cho mình lo âu bằng những lời đau buồn, ai oán sâu sắc trong những ngày phải sống kiếp lưu đày ở phương xa.Đào Duy Anh theo Quách Mạt Nhược giải thích tao là tên thể thơ] Li tao là một bài thơ trữ tình thương cảm, lâm li. ó là bài thơ của nhà chính trị nhưng chất thơ rất đậm, Kết hợp trữ tình và tự sự, kết hợp tính lãng mạn và tính hiện thực. Thủ pháp nghệ thuật chính là nói bằng hình tượng, ông thường dùng lối ẩn dụ, tượng trưng. Ông tả các thứ hoa thơm cỏ lạ ở nơi núi cao, vực thẳm để tượng trưng cho những phẩm chất tốt đẹp. Khi ông nói việc đeo hoa vào người làm đồ trang sức là nói tự mình trau dồi trong sạch, thanh cao. Ông còn dùng thần thoại truyền thuyết để tả cảnh núi non, sông nước, mây gió trăng sao làm cho ý thơ càng thêm bao la bát ngát. Li tao viết theo thể từ thuộc dân ca nước Sở, dùng ngôn ngữ nước Sở, đó là tính chất dân tộc đậm đà của thơ ôngVới di sản văn học để lại cho hậu thế, Khuất Nguyên được khẳng định là nhà thơ vĩ đại đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa. Những bài thơ tràn đầy tình cảm nồng nhiệt của ông " Tao thế" mà ông sáng tạo đã làm cho sức biểu hiện thơ ca cực kì phong phú. Thủ pháp lãng mạn mà ông sử dụng trong Li Tao đã ảnh hưởng sâu xa đến sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa lãng mạn trong văn học cổ điển Trung Hoa. Li Tao đã trở thành biểu tượng của thơ ca Trung Sử kí và Tư Mã ThiênTư Mã Thiên 145 90 TCN là nhà viết sử cũng là một nhà văn . Bộ Sử Ký của ông là một bộ thông sử lớn và một tác phẩm văn xuôi nổi tiếng. Cuộc đời và sáng tác của ông là tấm gương lớn cho hậu thế .Việc viết sử ở Trung Quốc có từ rất sớm, thời nhà Chu đã có sử quan. Tác phẩmThượng thư, Xuân thu,Tả truyện, Quốc ngữ, Chiến quốc sách chưa trình bày lịch sử Trung Quốc một cách hoàn chỉnh, hoặc chỉ chép một số sự việc cá biệt hoặc một số khu vực và giai Sử ký của Tư Mã Thiên đã tổng kết ba ngàn năm lịch sử Trung Quốc từ Hoàng ế truyền thuyết cho đến thời hiện tại Hán Vũ đế. Bộ sách miêu tả đời sống xã hội rộng rãi kinh tế chính trị văn hóa, các tầng lớp giai cấp từ công hầu khanh tướng học giả thầy bói, thích khách, hiệp sĩ giang hồ, con hát. . . Sách gồm 130 thiên như chương, hồi chia làm 5 loại + Bản kỷ 12 thiên tả các đời vua từ Ngũ đế, Hạ,Thương, Chu, Tần, Sở đến Hán+ Biểu niên biểu 10 thiên chép mối quan hệ giữa các bá vương và chư hầu qua các sự kiện lớn.+ Thư 8 thiên chép 8 mặt kinh tế, văn hóa chủ yếu.+ Thế gia 30 thiên chép về những nhân vật quí tộc lớn có ảnh hưởng mạnh mẽ quyết định sự phát triển và diệt vong của các chư hầu.+ Liệt truyện 70 thiên chép chuyện các nhân vật đặc biệt, nổi tiếng. Về sau thất lạc mất 10 thiên. Sử ký một bộ truyện ký nhân vật lịch sử Một bộ truyện giàu tính nhân dân, tính hiện thực, nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình sinh động sâu sắc, hấp dẫn cho tới nghìn năm sau . Miêu tả nhân vật thuộc giai cấp thống trị điển hình là Tần Thủy Hoàng hoàng đế độc tài chuyên chế vô cùng tàn bạo. Tịch thu hết vũ khí trong thiên hạ đem về đúc chuông khánh, tượng nặng cả ngàn cân trang trí cho cung điện. Bao nhiêu sách Thi Thư gom về các quận đốt. Hơn 600 học giả bị chôn sống ở Hàm Dương. Vơ vét tài sản của dân, bắt hàng vạn người xây cung A Phòng, đào núi Lí Sơn làm nơi tắm mát và lấy đá xây lăng tẩm , bắt đưa hàng chục vạn người dân sang sống ở Việt Nam để đồng hóa dân tộc. Xây Vạn Lý trường thành hao tổn biết bao mạng người và của cải tiền bạc Y còn là tên vua hưởng lạc khó ai bì kịp, trong cung chứa hơn mười ngàn cung nữ. Sợ chết, y sai tìm chế thuốc trường sinh bất tử hại người hại của . . .Mọi việc điều hành y tự mình quyết định, dùng giết người để thị uy. Là một tay giỏi võ nghệ, can trường khác người. Trong một chuyến đi ra khỏi cung, y chết khi đến tỉnh Hà Bắc, sống được năm chục tuổi .Khi viết về Lã Hậu tàn bạo xảo quyệt vợ của vua Hán Cao tổ ông nội đương kim hoàng đế thời Tư Mã Thiên mà ông cũng chẳng dè dặt khi hạ bút. Nhà học giả Vương Sung 27-98 đời ông Hán kể lại Hán Vũ đế nghe nói Tư Mã Thiên chép sử , sai lấy hai thiên phần ghi về Hiếu Cảnh và Hiếu Võ cha và anh của vua xem xong nổi giận xé vứt đi, do thế mà tài liệu đó thất truyền . Viết về bọn quan tướng, Tư Mã Thiên lại càng lên án thẳng thắn, như viết về tướng Bạch Khởi nhà Tần giết cả 90 vạn lính ba nước Triệu Hàn Ngụy đến bước đường cùng phải cúi đầu nhận tội. Những tên văn quan cai trị khác cũng tàn bạo tham lam, coi pháp luật như trò chơi, chỉ biết theo ý vua hay ý riêng mình . Nhìn chung giai cấp thống trị được tả như những kẻ xáo trá tàn ác xu nịnh đàn áp bóc lột dân là chuyện thường tình .Miêu tả thật hay về các nhân vật chính diện, như anh hùng Trần Thiệp, Ngô Quảng chống lại nhà Tần hung ác. Ông so sánh Trần Ngô với việc vua Thành Thang phạt Kiệt, Vũ Vương phạt Trụ thời xưa. Sau Tư Mã Thiên, một nhà sử học Hán là Ban Cố tác giả Hán Thư tìm cách hạ thấp hai vị lãnh tụ đó từ phần thế gia chuyển sang liệt truyệt và gọi hai ông là giặc cỏ, phản tặc ?. Quan thái sử nhà Tấn là ổng Hồ kiên quyết ghi Triệu Thuẫn giết vua chủ trì chịu trách nhiệm ! mặc dù cháu ông là Triệu Xuyên ra tay, nhân vật Trình Anh và Công Tôn Trừ Cữu trung thành hy sinh thân mình và con mình để giữ dòng máu họ Triệu .Nhân vật du hiệp, thích khách và những quan nhỏ chốn triều chính mà có nghĩa khí, cương trực đều được ca ngợi trong Sử ký. Họ là những người trọng nghĩa khinh tài , trọng công bằng ghét áp bức , thậm chí chế giễu cả thói xấu vua chúa . Người đồ tể giết lợn múa dao mà cũng dám giúp công tử Vô Kỵ nước Ngụy chống Tần Vô Kỵ được phong Tín Lăng quân . . . và rất nhiều vị đại hiệp khác được tả trong Liệt truyện Du hiệp/Thích khách / Hoạt kê liệt truyện . . .Nhân vật Hạng Võ trong phần Hạng Võ bản kỉ là phần đặc biệt hấp dẫn. Bên cạnh đó nhiều nhân vật chân chính được miêu tả kĩ như Bá Di, Thúc Tề, Quản Trọng, Án Anh, Khổng Tử, Khuất Nguyên, Liêm Pha, Lạn Tương Như, Lỗ Trọng Liên, iền an, Tín Lăng Quân, Hầu Doanh, Lí Quảng, Nhiếp Chính, Quách Giải, Trương Lương, Phàn Khoái , Phạm Tăng . . . Nghệ thuật dựng chuyện của Tư Mã Thiên thật đặc sắc chọn nhân vật điển hình , chọn chi tiết ít hay nhiều tùy theo sự cần thiết khắc họa tính cách nhân vật. ặc biệt khi tả Lưu Bang Hán cao tổ ông nội của vua đương triều Hán vũ đế Tư Mã Thiên cũng tả rõ thời trẻ ngài thích rượu, hiếu sắc, có hành động lưu manh, hạ nhục nhà nho. Vua Cao tổ đang ngồi ôm Thích phu nhân, Chu Xương vào thấy vội lui ra. Vua đuổi theo ngồi lên cổ Xương, lột mũ của ông quan rồi đái vàoXong lại hỏi Ta là vị vua như thế nào ?, Xương trả lời Bệ hạ là Kiệt Trụ. Vua cười ha hả. Dám viết như thế chẳng có ai ngoài Tư Mã Thiên. Nghệ thuật dẫn dắt câu chuyện là biết tạo hồi hộp, thắt mở nút đúng lúc. Ảnh hưởng lớn lao của Sử ký đến các đời sauCác nhà văn từ ường Tống đến Minh Thanh đều lấy Sử Ký làm gương mẫu, học cái lời văn gọn gàng như tiếng nói hàng ngày, không cần cổ kính uyên bác như thời Chiến quốc. ó là lối văn ngôn ưa dùng khẩu ngữ, ca dao, ngạn ngữ dễ hiểu .Cách khen chê của ông cũng gây ảnh hưởng đến người sau. Không bàn luận trực tiếp , ông chỉ kể việc, tự nó nói thay. Nhà viết sử phải dụng công lắm mới làm ra vẻ khách quan lạnh lùng để khỏi ai bắt lỗi kết tội. Người đọc ngẫm nghĩ sẽ thấy thái độ khen chê của ông sâu sắc thâm trầm ẩn kín ngay trong sự việc và họ tự rút ra kết thiên truyện ký trong Sử Ký làm gương mẫu cho các nhà tiểu thuyết khi xây dựng nhân vật, sắp đặt tình tiết, đối thoại. ông Chu liệt quốc, Tây Hán thông tục diễn nghĩa đều lấy ngay truyện trong Sử Ký mà viết lại. Trăm đời về sau các nhà viết sử không thể thay đổi được phương pháp của ông, các học giả không thể rời sách của ông- một học giả Trung Quốc nhận định như vậy. Câu nói đó tổng kết ảnh hưởng sâu xa của Tư Mã Thiên với nền văn học và sử học đời sau .2. Văn học Trung Quốc thời trung đạiVăn học Trung Hoa phát triển cao là ở thời kì này với các thể loại nổi bật phú Hán, thơ Đường, Từ Tống, Kịch Nguyên, tiểu thuyết Minh-Thanh. Phú thời HánPhú là một chi nhánh của thi, là thể loại văn học quý tộc, mô tả phô bày những vẻ đẹp thiên nhiên, chim thú kỳ lạ hoa cây quý hiếm, công trình nhân tạo và danh nhân nổi tiếng với hình thức ngữ ngôn cầu kỳ diễm lệ. Thực ra, phú bắt nguồn từ Sở từ của Khuất Nguyên và Tống Ngọc thời Chiến quốc và đạt đến đỉnh cao mẫu mực nghệ thuật thời Hán với những nhà viết phú nổi tiếng thời Hán như Tư Mã Tương Như, Dương Hùng, Ban CốPhú giai đoạn đầu chưa có sự phân biệt rạch ròi với Sở từ nên gọi chung là từ phú. Các giai đoạn về sau đã có những thay đổi nhất định nên hình thành nhiều cách gọi khác nhau như tao phú, Hán phú, biền phú, cầm phú, luật phú, văn phú. Trong đó, Hán phú giữ vị trí quan trọng và có nhiều ảnh hưởng đến văn học đời sau nhất. Hán phú là loại văn học cung đình, nội dung chủ yếu là ca công tụng đức vua chúa, ca ngợi đất nước mạnh giàu, sản vật phong phú, miêu tả cung điện hoành tráng, hoa viên xinh đẹp, cuộc sống sinh hoạt chè chén xa hoa nơi triều Thơ ĐườngVăn học thời ường rất phát ường là thể loại đạt được những thành tựu rực rỡ và có quan hệ mật thiết với nhiều thể loại khác. Thơ ường tiếp thu, kế thừa cả quá trình phát triển lâu dài của thơ ca từ Kinh Thi, Nhạc Phủ, Thơ Kiến An, Sở từ, dân ca hào phóng miền Bắc, dân ca uyển chuyển phương Nam và lí luận thơ ca của các thời đại ường chia ra bốn giai đoạn Sơ Thịnh Trung Vãn . Sơ ường là giai đoạn chuẩn bị mọi mặt cho thơ, còn mang nặng tính chất uỷ mỵ với bốn nhà thơ nổi tiếng Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Tân và Lạc Tân Vương. Cuộc đời họ gặp nhiều bất hạnh nhưng trong thơ vẫn có những tình cảm tích cực lành mạnh. Sau đó, Trần Tử Ngang đề xướng chủ trương khôi phục tinh thần phong nhã và đặt nền móng cho thơ hiện thực. Nhược điểm của thời kỳ này là khi viết về chiến tranh, âm hưởng chủ đạo của họ là khẳng định, ca ngợi. Thịnh ường là giai đoạn rực rỡ nhất của thơ, đạt đến sự thống nhất hoàn mỹ giữa nội dung và hình thức với nhiều nhà thơ lớn. Mặc dù thơ ường khá đa dạng phong phú, ta cũng tạm chia họ ra hai trường phái dựa trên đề tài phái điền viên và phái biên tái. Vương Duy và Mạch Hạo Nhiên là đại biểu lớn của phái điền viên với nghệ thuật cao, đôi khi phản ánh được những nét chân thực của sinh hoạt nông thôn và vẻ đẹp của thế giới tự nhiên song nhìn chung còn xa rời cuộc sống thực Bác Hồ có viết bài Cảm tưởng đọc Thiên gia thi thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp, Mây gió trăng hoa tuyết núi sông. Phái biên tái Hầu như nhà thơ nào cũng viết về chiến tranh, về cảnh biên cương khốc liệt, đặc biệt là miêu tả tâm trạng và đời sống của chinh phu, chinh phụ. Có người thiên về ca ngợi như Cao Thích, Sầm Tham, đa số thiên về phê phán như Vương Xương Linh, Lí Kỳ và tiêu biểu nhất là Lí Bạch với cảm quan nhạy bén đã sớm phát hiện ra dấu hiệu suy vong của nhà ường nấp sau vẻ phồn thịnh đương thời. ến thời Trung ường, có thể coi ỗ Phủ là chiếc cầu nối giữa Thịnh ường và Trung ường. Thơ ông phản ánh hiện thực xã hội một cách sâu rộng. Hiện tượng nổi bật sau này là phong trào thơ phúng dụ trữ tình của Bạch Cư Dị thể hiện sự đồng tình sâu sắc với nhân dân và phản ánh sinh động mâu thuẫn giai cấp gay gắt trong xã hội nổi tiếng với bài Tì bà hành. Trong khi đó, một số nhà thơ vẫn sáng tác theo lối điền viên. Liễu Tôn Nguyên làm thơ ngụ ngôn rất sở trường, phản ánh nỗi khổ của dân chúng và phê phán bọn thống trị. Do bất mãn, u hoài, bực bội đôi khi ông rơi vào hư vô. Lí Hạ là nhà thơ có biệt tài xây dựng tứ thơ đọc đáo, hình ảnh kỳ lạ, từ ngữ mới mẻ quỉ tài. ến thời Vãn ường vẫn còn nhiều nhà thơ tài năng xuất hiện với cảm hứng ạo giáo, có ít nhiều tiến bộ như Tào Nghiệp, Ôn ình Quân, Lý Thương Ẩn và ỗ Mục, chia thành nhiều nhóm lãng mạn khác nhau. Ngôn ngữ thơ ường trong sáng, tinh luyện, tiết kiệm ngôn từ bài ngắn nhất hai mươi chữ ngũ ngôn tuyệt cú. Do thế, thơ ường rất súc tích, cô đọng. Ít khi thơ chịu nói hết ý, và không nói trực tiếp, mà chỉ dựng lên hàng loạt mối quan hệ để cho độc giả tự suy luận, tức là vẽ mây, nẩy trăng chỉ tả đám mây, nhưng ta biết có vầng trăng bị che lấp ở phía sau, ý ở ngoài lời, ý đến mà bút không đến, bút dừng mà ý không dừng lời hết mà ý chưa hết Thơ ường luật có vẻ gò bó nhưng vẫn dung nạp nhiều thủ pháp khác nhau , sự năng động của mọi nhà thơ, đỉnh cao nhất là thủ pháp ám thị và gợi ường thâm nhập vào đời sống người Trung Hoa bao đời nay, từ sinh hoạt bình thường đến những lễ nghi long trọng. Thơ mừng cưới, chúc thọ, chia buồn, thơ kén chồng thơ thù tạc. Có người cho rằng người Trung Hoa say mê thơ như một tôn giáo. Bởi thơ ường rất tinh tế, thanh nhã, không dài và không hùng mạnh, điều hoà và sinh động, với lối miêu tả tả cảnh ngụ tình là biện pháp phổ biến .Những kiệt tác của thơ Đường tiêu biểu "Trường hận ca" và " Tỳ Bà Hành".- Tỳ bà hành là bài thơ cảm thương tiêu biểu nhất, một trong những bài hay nhất trong văn học cổ điển Trung Quốc. Câu chuyện trong bài thơ thật đơn giản mà cảm động thấm thía. Giữa cảnh mùa thu buồn man mát, cuộc chia ly giữa nhà thơ và bạn bè ngậm ngùi. Có tiếng đàn tỳ bà văng vẳng bên sông khiến khách bạn của nhà thơ không nỡ đi, chủ Bạch Cư Dị không thể quay về, liền tìm hỏi người gảy đàn. ó là một người phụ nữ ngồi chơi đàn một mình trong một con thuyền. Họ xin nàng gảy đàn cho nghe. Bữa tiệc nối tiếp. Gảy đàn xong, nàng kể lại cuộc đời chìm nổi của mình. Xúc động trước tiếng đàn và cuộc đời cay đắng của cô gái xưa là kĩ nữ, nhà thơ cũng trút bầu tâm sự .Cảm động vì mối quan tâm của thi nhân, nàng đàn lần nữa. Tiếng đàn càng réo rắt xao động hơn. Chàng tư mã Bạch Cư Dị hứa sẽ làm bài thơ để tặng nàng đàn. ó là bài Tì bà hành . Bài thơ chủ yếu tả tiếng đàn, cảnh nàng đàn và thuật vắn tắt cuộc đời kĩ nữ. Tả cảnh chen tả tình, tự sự và trữ tình, bài thơ có giá trị hiện thực và tinh thần phê phán sâu sắc, tình nhân đạo thắm thiết với nghệ thuật cao. ây thực là mẫu mực của thơ tự sự cổ điển. Trong cuộc đờn ca, thính giả và kĩ nữ đồng cảm hoàn toàn. Diễn biến tâm tư theo sát cung đàn, tri âm và tri kỷ, dấy lên tậm trạng bất bình đau xót, như giải bày tâm sự. Ba lần chơi đàn được miêu tả tuyệt vời linh hứng nổi nên trong Tỳ Bà Hành là nỗi oán giận tài năng bị vùi dập đố kị. Nguyên tác bài thơ theo thể hành cổ phong, gọi là thất ngôn trường thiên, gồm 88 câu x bảy chữ 616 tiếng Bạch Cư Dị còn ghi thêm bài Tự Tựa đề tặng người kĩ nữ ông gặp trên bến sông Tầm Dương. Bản dịch Tỳ bà hành ở Việt Nam của ông Phan Huy Thực rất đặc sắc, là mẫu mực của việc dịch thơ. Bản dịch tiếng Việt có đủ 616 tiếng theo thể song thất lục bát dân tộc còn gọi là lục bát gián Trường hận ca là câu chuyện tình giữ nàng Dương Quý Phi và vua Đường Minh Hoàng Đường Minh Hoàng là nhà vua tài hoa, là tác giả của vũ điệu nghê thường, cải biên từ điệu múa của Ấn Độ. Ở miền nam Việt Nam trước 1975, câu chuyện này được viết thành vở cải lương rất nổi kể, vua Đường Minh Hoàng từ khi chiếm đoạt được người đẹp Dương Quý Phi, nhà vua đã say mê và bỏ bê việc triều chính. Vua dành cho gia đình Dương Quý Phi lắm bổng lộc và đặc ân. An Lộc Sơn là một tướng trong cung , cũng yêu nàng rồi nổi loạn. Vua phải bỏ kinh thành. Khi chạy đến Mã Ngôi thì quân sĩ không chịu đi nữa nếu như nhà vua không giết người gây họa là Dương Quý Phi. Vì sự tồn vong của một vương triều Vua đành chịu phép, mặc cho thủ hạ hành xử người thiếp yêu. Vua lánh nạn tại đất Thục. Nỗi nhớ người xưa day dứt trong lòng vua. Loạn An Lộc Sơn rồi cũng được yên. Vua về lại kinh thành. Sống trong cảnh cũ thiếu người xưa khiến lòng vua càng thêm thương nhớ. Tình yêu của vua đã làm động lòng một đạo sĩ ở đất Lâm Cùng. Đạo sĩ này dùng phép thuật gọi hồn để vua tôi có thể gặp nhau trong thế giới mộng, thế giới bên kia hay thế giới mà vua có thể tìm đến trong mỗi giấc ngủ. Nàng Dương Quý Phi, nay là một tiên nữ đang sống trên hải đảo thần tiên nàng mang tên là Thái Chân, đó là một pháp danh cũ của một ni sư năm xưa khi vua mới gặp nàng tại nhà con trai mình, Lý Dực. Tại cung của tiên của bà Tây Vương Mẫu, khi gặp sứ giả của vua, Dương Quý Phi đã thổ lộ mọi nỗi nhớ và nhắc lại mọi kỷ niệm xưa mà nàng giữ kín, nay có dịp tỏ bày một lần cho hả dạ. Tất cả chỉ vì thương nhớ " Tình quân" lần này là lần cuối. Người tiên cõi tục. Qua 120 câu thơ của Bạch Cư Dị có nhiều chi tiết cảm Từ thời Tống Thơ ca thời Tống vẫn tiếp tục truyền thống ường thi. Thời Tống còn có một thể loại văn chương mới là Từ vốn nảy sinh từ cổ đại nay đạt tới hình thức hoàn chỉnh. Có thể xuất phát từ Sở từ và Li tao của Khuất Nguyên thời Chiến quốc, Từ chủ yếu bắt nguồn trong dân gian, phát triển từ thời Vãn ường Ngũ đại thập quốc, nhưng đến thời Tống thì phát triển mạnh nhất và hoàn hảo về hình thức. Từ nguyên là những bài hát phổ vào những bài thơ tuyệt cú của văn nhân hoặc bài hát dân gian. Nhạc công ca sĩ cải biên lời gốc tạo ra ngắn dài xen kẽ cho hợp nhạc. Do đó Từ trở nên thể loại thi ca độc lập, có âm luật nhất định. Nội dung tư tưởng của Từ là tạp, bao gồm cả Nho Phật và ạo đạo Lão. Tên của bài từ là tên của một điệu hát khúc曲 So với thơ, Từ uyển chuyển tự do phóng khoáng cởi mở hơn, thu nạp tất cả mọi cung bậc tình cảm, hiện tượng đời sống. 75 % bài Từ thời Tống là thơ tình yêu. Từ Tống thiên về tình cảm và chuyện đời sinh động, như là sự phản kháng với Đạo học, Lý học nặng về lí trí trong thời kỳ Tiểu thuyết Minh - Thanh Minh Thanh là thời kỳ hoàng kim của tiểu thuyết Trung Quốc. Với các bộ sách Tam quốc, Thuỷ hử, Đông Chu liệt quốc, Tây du ký, Phong thần diễn nghĩa, Liêu trai chí dị, Chuyện làng nho, Hồng lâu mộng , tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa đã đạt đến trình độ hoàn chỉnh. Bởi vậy, tiểu thuyết thời Minh Thanh được gọi là tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa.*Tam Quốc Diễn Nghĩa ây là bộ tiểu thuyết giảng sử, xuất hiện vào đầu nhà Minh của nhà văn La Quán Trung 1330-1400 quê thành phố Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây. Ông là nghệ sĩ đa tài, thông thạo văn chương và hý khúc, nổi bật nhất là viết tiểu thuyết. Cuộc đời ông bôn tẩu giang hồ, thường bất đắc chí trong sự nghiệp phò vua giúp nướcKhi nhà Minh đập tan nhà nước Nguyên Mông, thống nhất đất nước, ông chuyên viết lại dã sử. Bên cạnh Tam quốc diễn nghĩa, có thuyết cho rằng ông còn viết một bản Thủy hử truyện hoặc Tục Thủy hử. Với tài năng sáng tạo Tam quốc diễn nghĩa tái hiện một thế kỉ loạn lạc điên đảo do tham vọng tranh giành quyền lực và lãnh thổ của các đế vương Trung Hoa gây ra. Tiểu thuyết này tuy có hư cấu song căn bản phù hợp với lịch sử. ó là bộ mặt thời Tam quốc 220 280 cũng là bộ mặt quen thuộc của xã hội phong kiến Trung Hoa ở mọi thời phân rồi hợp, hợp rồi phân, đó là tình trạng lặp đi lặp lại hầu như đã thành qui luật. Tham vọng bành trướng thế lực và lãnh thổ của vương hầu, khanh tướng khiến đất nước điêu linh, nhân dân khốn khổ. Nhà thơ Vương Xán cùng thời Tào Tháo đã viết câu thơ ra ngõ toàn xương trắng. phủ kín cả bình nguyên. Chính Tào Tháo cũng làm thơ thương nỗi khổ dân chúng điêu linh đọc thêm trang sau. Cả ba tập đoàn Ngụy, Thục, Ngô đều muốn thống nhất quốc gia dưới quyền cai trị riêng của mình., La Quán Trung đã viết thành bộ truyện dài đầu tiên của văn học Trung Quốc. Mặc dù viết truyện lịch sử, tác giả cũng không miêu tả một cách khách quan mà vẫn bộc lộ thái độ tình cảm của mình. Ông đã vạch trần tội ác của giai cấp thống trị đối với nhân dân và ngay cả với nội bộ của chúng. ổng Trác tàn ác giết dân lành, Lã Bố hai lần giết bố nuôi. Hai anh em Gia Cát Lượng và Gia Cát Cẩn coi nhau như kẻ thù. ặc biệt, Tào Tháo không từ một thủ đoạn nào cốt đạt được mục đích. Dưới ngòi bút sinh động của tác giả, các nhân vật hiện lên để chứng minh một qui luật đáng sợ của chế độ phong kiến Trung Hoa cá lớn nuốt cá bé, người ăn thịt người. Nhà văn đã vượt qua tư tưởng chính thống của mình, để miêu tả đúng qui luật cuộc sống, ông xứng đáng là nhà văn hiện thực vĩ đại. Tam quốc diễn nghĩa là câu chuyện dài trăm năm, có hàng ngàn sự việc, hàng trăm trận đánh và hơn 400 nhân vật. Tác phẩm có dung lượng thật đồ sộ. Tài năng của nhà văn trước hết thể hiện ở nghệ thuật kết cấu. ó là một kết cấu hùng vĩ, mạch lạc rõ ràng. Người xem không bị rối loạn bởi nhiều sự kiện và hàng loạt nhân vật. Tính mạch lạc này là do khuynh hướng tình cảm của nhà văn tạo nên. Ông đã sắp xếp nhân vật thành các trận tuyến khác nhau, cho đan chéo vào nhau theo logic của đời sống và tình cảm của mình đặt vào nhà Thục Hán. Lời văn Tam quốc dễ đọc, dễ hiểu nên được phổ biến rộng rãi, trở thành bộ tiểu thuyết đầu tiên cho thể loại. Người bình dân Trung Quốc, nhờ những bộ sách như thế mà hiểu được lịch sử nước nhà, học được cách đối nhân xử thế và nhận thức được âm mưu thủ đoạn của bọn thống trị. Tam Quốc diễn nghĩa như một bộ sách giáo khoa nhiều mặt, nó được phổ biến ở nhiều nước, nhất là vùng ông Nam Á. Nhiều nhân vật và sự kiện đã thành điển cố trong văn học Việt Nam. ó là hiện tượng thông thường trong giao lưu văn hoá, đặc biệt trong quan hệ hai nền văn hóa Trung -Việt .*Thủy Hử truyệnThủy hử là tác phẩm xuất hiện gần cùng thời với Tam quốc diễn nghĩa. Quá trình hình thành tác phẩm trải qua ba giai đoạnNhững câu chuyện rời rạc được lưu truyền trong dân chúng tỉnh Sơn ông;Các nghệ nhân dân gian ghi chép thành truyện cổ hoặc soạn thành hí khúc.;Cuối cùng Thi Nại Am dựa vào các tư liệu và văn liệu đã có mà sáng tạo bộ tiểu thuyết hoàn chỉnh. Tác giả Thi Nại Am, quê sông Tiền Đường, thành Hàng Châu, tỉnh Triết Giang, không rõ năm sinh năm mất, sống cuối Nguyên đầu Minh, một thời làm quan, sau thất vọng bất mãn, bỏ quan về nhà Thủy hử kể lại câu chuyện khởi nghĩa nông dân tỉnh Sơn ông, đời Bắc Tống do Tống Giang cầm đầuThi Nại Am một mặt dựa vào sự thật lịch sử, dã sử, mặt khác gia công sáng tạo rất Hử phản ánh một cách chân thực sinh động quá trình phát sinh phát triển và thất bại của cuộc khởi nghĩa nông dân Tống Giang đời nhà phẩm đã phản ánh một chân lý lịch sử, đó là quan buộc dân phản thì dân không thể không chống lạiTác giả miêu tả sự áp bức chính trị của bọn thống trị và phơi bày đời sống hủ bại của chúng còn sự bóc lột áp bức về kinh tế chỉ được khái quát bằng mấy câu nhận xét và một bài thơ ngắn. ó là những nguyên nhân trực tiếp khiến các nhân vật đại biểu ưu tú của mọi hạng người trong xã hội lần lượt quy tụ về Lương Sơn hử đạt thành công khá cao về xây dựng nhân vật và tổ chức dẫn dắt tác nhân vật xuất hiện đột ngột, xen vào sự việc của người khác. Tính cách của họ dần dần lộ rõ trong phương pháp miêu tả từ xa tới gần. Một số nhân vật chủ yếu trong Thủy Hử có thể gọi là nhân vật tính cách, vì tính cách này coi như cố hữu, do hoàn cảnh môi trường quy định. Tác giả cố ý xếp đặt những tính cách đối lập nhau đi song đôi như Tống Giang và Lý Quỳ. Một bên trăn trở suy tư, một bên chỉ hành động theo cảm tính. Giống Tống Giang ở chữ hiếu nhưng Võ Tòng có khác hơn cả hai người. Anh từng ra vào chốn nha môn, hiểu biết ít nhiều thủ tục kiện tụng. Trước khi trừng trị Tây Môn Khánh và Phan Kim Liên, anh đã chuẩn bị bao công phu cho đủ chứng cứ. Anh là dạng trung gian tính cách Tống Giang và Lý Quỳ. Còn Lâm Xung thì khá giống với Tống Giang, có sự phát triển tính cách khá hợp với lôgíc cuộc thể nói Tam quốc và Thủy Hử đều có sự kết hợp giữa khuynh hướng hiện thực và khuynh hướng lãng mạn, giữa tính cao cả và tính trần tục. Tuy vậy, mức độ khác nhau ở mỗi tác phẩm. Ở Tam quốc, tính cao cả chiếm ưu thế, còn ở Thủy Hử tính trần tục lại trội hơn với nhiều chi tiết sinh hoạt. Hệ thống nhân vật nữ ở hai tác phẩm cũng khác nhau. Thủy Hử có nhiều nữ hơn và tính cách trần tục sinh động phức tạp cấu của Thủy Hử là một kết cấu đặc biệt gọi là đoản thiên liên hoàn tiểu thuyết . Nghĩa là tiểu thuyết này có thể chia xẻ thành nhiều truyện ngắn với vài nhân vật. iều đó chứng tỏ lúc đầu có nhiều câu chuyện nhỏ độc lập nhưng cùng xoay quanh một chủ đề. Tác giả đã thu gom chắp nối với một công phu sáng tạo cao. Các hồi kế tục nhau như những đợt sóng liên tiếp, có những cồn sóng lớn kéo theo các cồn sóng nhỏ hồi 2, hồi 10, hồi 40. Cho đến hồi 71, quá trình tập hợp lực lượng hoàn thành. Kiểu kết cấu này phù hợp với nội dung như Tam quốc chí, Thủy hử là một tác phẩm được lưu truyền rộng rãi nhất ở Trung Quốc. Trong lịch sử nghiên cứu tác phẩm này có một số khuynh hướng lệch lạc. Với chúng ta, bên cạnh một số giá trị nghệ thuật có thể tiếp thu, giá trị nhận thức là chủ yếu.* Tây Du KíNgô Thừa Ân 1500 1581 ? quê tỉnh Giang Tô, con một nhà buôn nhỏ, học giỏi nhưng 43 tuổi mới thi đỗ, có làm chức thừa lại ở huyện nhưng cảm thấy nhục nhã vì phải vào luồn ra cúi nên từ chức bỏ du ký ra đời khoảng năm Gia Tĩnh triều viết xong Tây du ký khi đã ngoài 70 tuổi, sống nghèo túng ở quê nhà. Ngoài ra còn viết một bộ truyện chí quái và nhiều văn thơ, gom lại trong 4 du ký bắt nguồn từ một chuyện có thật nhà sư trẻ đời ường là Trần Huyền Trang đã một mình sang Ấn ộ du học và xin kinh Phật. ường đi 5 vạn dặm, vượt qua 128 nước nhỏ lớn, đi về hết 17 năm trời. Câu chuyện được thêu dệt màu sắc huyền thoại và truyền tụng rộng rãi trong dân gian, lâu ngày trở thành truyền thuyết. Những nghệ nhân kể chuyện đời Tống đã gia công thành những chuyện kể hoàn chỉnh, nay còn giữ được trong bộ sách ại ường Tam Tạng thủ kinh thi thoại. ó là nền tảng đầu tiên của Tây du ký. ến đời nhà Nguyên lại xuất hiện bộ sách Tây du ký bình thoại dựa theo bản trên. Trong các vở tạp kịch thời Nguyên có số vở dựa theo đề tài trên. Ngô Thừa Ân đã dày công thu thập truyền thuyết, dã sử và dựa vào tác phẩm kể trên, lại phát huy thiên tài sáng tạo hoàn thành bộ truyện 100 du ký là bộ truyện lãng mạn với màu sắc thần thoại mới. Sức tưởng tượng mạnh mẽ của tác giả đưa người đọc vào một thế giới huyền ảo, diệu kỳ, luôn luôn bất ngờ không thể đoán trước, người đọc kinh ngạc nhưng vẫn thấy gần gũi, thân thiết. Nhà văn cũng sử dụng yếu tố hài hước, dí dỏm, lạc quan đây là một đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật dựng truyện phù hợp với ý đồ tư tưởng nghệ thuật, làm giảm ấn tượng rùng rợn kinh hoàng. Nhân vật Tôn Ngộ Không với tính cách tự tin, thông minh, lạc quan, linh hoạt, kiên trì đã giúp người đọc, người nghe sảng khoái yên tâm và hy một bộ tiểu thuyết chương hồi dài, Tây du có kiểu kết cấu móc xích, mỗi hồi có ý nghĩa riêng độc lập như một truyện ngắn nhưng phát triển nối tiếp. Cả cuốn tiểu thuyết gồm nhiều mắt xích được xâu lại với nhau. Ngoại trừ một số phần, đoạn trùng lặp, nhìn chung bộ truyện có một kết cấu chặt chẽ không thể chia ngữ Tây du khá lưu loát, mang mầu sắc khẩu ngữ dân gian linh hoạt, mới mẻ. Tác giả cũng thành công trong việc cá thể hóa nhân vật bằng ngôn ngữ, nhất là Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới có ngôn ngữ đầy cá theo Ngô Thừa Ân, hàng loạt tiểu thuyết thần quái ra đời như Phong thần diễn nghĩa, Tục Tây du, Hậu Tây du nhưng không có tác phẩm nào sánh kịp Tây khi ra đời đến nay đã 4 thế kỷ, Tây du cũng như Tam quốc, Thủy hử được nhân dân Trung Quốc và nhiều nước châu Á yêu thích và truyền tụng. ó là vinh quang lớn lao và niềm an ủi xứng đáng với một tác giả suốt đời bất đắc chí, đồng thời cũng là niềm tin tưởng của nhân dân vào một tương lai tốt đẹp hơn.* Liêu Trai Chí Dị Ở thời nhà Thanh, bên cạnh các pho tiểu thuyết đồ sộ còn có khá nhiều truyện ngắn, trong đó bộ Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh nổi tiếng hơn cả. Bồ Tùng Linh 1640-1715 quê ở huyện Tri Xuyên, tỉnh Sơn ông, xuất thân trong một gia đình địa chủ sa sút, suốt đời long đong lận đận. Mười chín tuổi đi thi tú tài, đỗ đầu huyện. Nhưng về sau đi thi nhiều lần nữa vẫn không đỗ, mãi đến 72 tuổi mới đỗ tuế cống sinh, ba năm sau thì mất. Nhà nghèo, trừ một năm làm môn khách cho tri huyện, còn thì vất vưởng dạy học kiếm sống khắp vùng nông thôn quê nhà. Cảnh nghèo túng và mộng công danh dằn vặt ông suốt cuộc đời. Cái nghèo đẩy ông đến với những người lao động. Chuyện kể rằng, ông thường mua trà, thuốc, rải chiếu ven đường, đợi lúc nông dân đi làm về thì mời họ trò chuyện, nhân đó sưu tầm chuyện lạ dân gian. Con đường khoa hoạn luôn luôn làm ông bất đắc chí, lòng đầy uất ức. Do đó, ông đã viết nên những thiên truyện ngắn bất hủ về đề tài này. Bộ truyện ngắn Liêu trai chí dị được viết từ năm ông 20 tuổi đến năm 50 tuổi mới hoàn thành. Trong Lời tựa viết lấy Tự tự, ông tâm sự Mặc dù không có tài nhưng rất thích sưu tầm chuyện thần ma, tâm tình giống như người xưa thích nghe chuyện ma quỷ. Nghe đến đâu là đặt bút ghi chép đến đấy, lâu ngày thành sách. Ông là một nhà giáo nông thôn biết tìm niềm vui trong việc sưu tầm truyện và sáng tác. Ngoài bộ Liêu trai được viết bằng cổ văn hết sức điêu luyện, tác giả còn để lại 6 tập thơ, 4 tập văn, 14 thiên hí khúc và 3 vở tạp kịch. Liêu trai chí dị gồm hơn 400 truyện ngắn gồm nhiều đề tài, nội dung phong phú, có thể tạm chia ba loại chính như sau Loại thứ nhất Vạch trần chế độ chính trị đen tối, đả kích tham quan ô lại cường hào ác bá, bênh vực người lương thiện bị oan ức, bị chà đạp, bị bức hại. Như các truyện Xức chức con Dế, Hồng Ngọc, ậu Thị, Tục Hoàng Lương Mặc dù nhà văn không nói trực tiếp đến sự phản kháng, đấu tranh của nhân dân, Liêu Trai đã xây dựng được những hình tượng phục thù có sức hấp dẫn. Tịch Phương Bình, Hướng Cảo, ậu Thị. Có cả những người phụ nữ xinh đẹp, yếu đuối bất lực bị hãm hại, chà đạp mà chết, khi chết lại hoá mạnh mẽ, tự mình báo thù rửa hận Loại thứ hai Tạm gọi là chuyện làng nho chuyện nho sinh, nho sĩ, và chế độ khoa cử. Công danh khiến bao người mê muội, mất hết trí sáng suốt. Một phần vì họ bị nhồi nhét khát vọng công danh phú quí, mặt khác vì chế độ thi cử thối nát bất công. Quan chấm thi rặt một lũ dốt nát và vô trách nhiệm. Thi cử bằng thơ văn cổ sáo rỗng chỉ cần thí sinh học như con vẹt chẳng cần sáng tạo. Do đó, bọn giám khảo đánh hỏng người tài, chọn kẻ tầm thường. Chế độ khoa cử thời ấy gây biết bao thảm hoạ, chính tác giả đã từng nếm đủ mùi cay đắng truyện Tam Sinh, Giả Phụng Chi. Loại thứ ba Xoay quanh đề tài tình yêu và hôn nhân. Cũng giống như Vương Thực Phủ viết vở kịch thơ nổi tiếng Tây sương ký, Bồ Tùng Linh là loại tác giả hiếm hoi nhiệt tình ca ngợi tình yêu trai gái, coi đó là hạnh phúc chính đáng của thanh niên và cổ vũ họ đấu tranh vượt qua mọi chướng ngại để giành lấy tình yêu tự do và hôn nhân tự chủ các truyện Thanh Phượng, Thuỵ Vân, A Bảo. Ngoài ba loại đề tài trên, Liêu Trai còn có một số chủ đề khác như đề cao cảnh giác với kẻ thù Chuyện sói, triết lý về lao động và hưởng thụ ạo sĩ Lao Sơn, ca ngợi tình bạn Kiều Na, ca ngợi thế giới đào nguyên mộng ảo trong đời Vương GiảSức hấp dẫn, thuyết phục của Liêu Trai chính là do tính chân thật bắt nguồn từ chân lý cuộc sống mà Trai ra đời đã ba thế kỷ. Nó đem lại cho người đọc thứ văn truyện mới mẻ, hấp dẫn. Người đọc có được niềm vui nhờ cảm giác hoá thân kỳ diệu trong chốc lát để thoát khỏi cảnh đời ngang ngược, để thực hiện những mơ ước. Nhược điểm của Liêu Trai là còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng định mệnh, báo ứng luân hồi, quan điểm tướng số* Nho Lâm Ngoại SửTác giả Ngô Kính TửTác giả sinh năm 1701 tỉnh An Huy, gia đình truyền thống học hành làm quan nhiều đời. Cố nội làm quan đời Thuận Trị, ba anh em đỗ tiến sĩ. Cha làm quan đời Khang Hy. Bất mãn thời cuộc, Tử đỗ tú tài, ngao du với bạn hữu, đi nhiều nơi. Chán chường công danh, không thi cử nữa. Càn Long du hành Giang Nam, ai cũng đổ ra đón, ông đi nằm ngủ. Bệnh mất đột ngột . Chuyện làng nho là cuốn tiểu thuyết lớn đầu tiên do một tác giả tự sáng tạo hoàn toàn, đồng thời miêu tả trực tiếp xã hội đương thời mặc dù giả định là bối cảnh đời Minh. Bức tranh những nho sĩ, quan lại hủ bại , gàn dở. Không có một cốt truyện xuyên suốt, mà gồm những truyện kể từng nhân vật nối tiếp sang nhân vật khác. Tuy vậy cảm hứng và tư tưởng thì xuyên suốt và duy nhất . a số nhân vật phản diện, chỉ có một số nhân vật chính diện. Truyện phê phán toàn bộ chế độ Mãn Thanh bắt đầu suy thoái. Cảm hứng bi kịch và hài kịch xen kẽ, kín đáo .*Một số nhân vật tiêu biểuVương Miện con nông dân nghèo, học dở chừng vì nghèo bỏ đi chăn trâu. Anh thông minh, tài hoa, vẽ tranh đẹp. Coi thường thi cử, không thích giao du với quan lại . Nghe tin quan trên cho gọi anh ra làm quan, anh vào núi Cối Kê ở ẩn, bị bệnh chết ở đó . Nhân vật này là tuyên ngôn của nhà văn Ngô Kính Tử .Chu Tiến và Phạm Tiến long đong thi mãi đến già mới đỗ, khi còn đi học sống cực khổ bị khinh rẻ . ỗ Thiếu Khanh nhân vật tự thuật của tác giả, là nhân vật chính diện . Nữ nhân vật chính diện là Thẩm Quỳnh Chi, bị lừa làm thiếp vợ bé nàng bỏ trốn lên thủ đô Nam Kinh, tự lao dộng kiếm sống. Bị lùng bắt, dám đánh lính tháo chạy, ra tòa tranh cãi thắng lợi, được trả tự do .*Hồng Lâu Mộng Tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng còn có hai tên khác là Thạch đầu ký Tào Tuyết Cần đặt và Kim Lăng thập nhị kim thoa 12 chiếc trâm vàng đất Kim Lăng. ây là bộ tiểu thuyết hiện thực vĩ đại xuất hiện vào thời Càn Long, nhà Thanh cuối thế kỷ 18. ây là tác phẩm văn học tiêu biểu cho cả giai đoạn văn học Minh Thanh nhờ dung lượng đồ sộ, sự thuần thục trong phương pháp sáng tạo và âm vang của sự chuyển mình lịch sử đã mang đến cho người lịch sử văn học Trung Quốc, Hồng Lâu Mộng có vị trí đặc biệt. Người Trung hoa say mê đọc, bình luận và sáng tác về nó đến mức truyền nhau câu tục ngữ mở miệng nói chuyện mà không nói Hồng Lâu Mộng thì dẫu có đọc hết cả sách trên đời cũng vô ích. Khai đàm bất thuyết Hồng Lâu Mộng, độc tận thi thư diệc uổng nhiên Bộ truyện gồm 120 hồi do hai tác giả sáng tác. Tào Tuyết Cần viết 80 hồi đầu và dự thảo đề cương cả 40 hồi sau. Tác phẩm viết chưa xong thì ông chết vì đau bệnh. Tiến sĩ Cao Ngạc viết tiếp 40 hồi sau dựa theo đề cương của Tào Tuyết Cần và đặt tên là Hồng lâu mộngTiểu thuyết Hồng Lâu Mộng là một tác phẩm hiện thực chủ nghĩa tiêu biểu. ó là một bức tranh vĩ đại về qui mô cũng như về ý nghĩa của cuộc sống xã hội Trung Quốc thế kỉ XVIII. Những yếu tố hoang đường tạo nên cái khung của bức tranh xã hội ấy là một vật cống của nhà văn cho những đòi hỏi của thời đại mình. Những chuyện hoang đường lấy từ truyền thuyết và cổ tích nhưng không có gì là thần bí .Có thể xem Hồng Lâu Mộng là tập đại thành những tiến bộ nghệ thuật của tiểu thuyết hiện thực Trung Hoa từ thế kỷ 14 đến 18. Từ Tam quốc diễn nghĩa đến Hồng Lâu Mộng tiểu thuyết đã có sự phát triển, đổi mới đáng kể, tiến gần sát với tiểu thuyết hiện đại nhìn chung Hồng Lâu Mộng vẫn là một tác phẩm thống nhất và hoàn khi ra đời, Hồng Lâu Mộng đã được hoan nghênh rộng rãi. Tác phẩm mau chóng trở thành món ăn tinh thần thường xuyên không chán của quần chúng. Lâm Ngữ ường một học giả Trung Hoa đã nhận xét Nếu một cuốn sách có thể huỷ diệt cả một quốc gia, như một số nhà phê bình Trung Hoa đã nói, thì Trung Hoa đã bị tiêu diệt từ lâu vì truyện Hồng Lâu Mộng rồi. Vì toàn thể dân Trung Hoa say mê ại Ngọc và Bảo NHỮNG THÀNH TỰU TIÊU BIỂU CỦA VĂN HỌC TRUNG QUỐC HIỆN ĐẠI1. Bốn giai đoạn của văn học Trung Quốc hiện đại- Giai đoạn 1 1911- 1949 Văn học dân chủ, tiền cách mạng và hiện đại hoáVăn học cất tiếng nói giã từ chế độ phong kiến. Văn học truyền bá tư tưởng phê phán chế độ phong kiến, cổ vũ cho tư tưởng cộng hoà, dân chủVăn học hiện đại có thể tính từ Cách mạng Tân Hợi năm 1911 hoặc từ cuộc vận động Ngũ Tứ 1919. Nổi bật là nhà văn, nhà báo, nhà giáo Lỗ Tấn. Ông là nhà tổ chức, cây bút tiên phong chủ lực xây dựng nền văn học mới của cách mạng vô sản. Sau đó, nhà thơ Quách Mạt Nhược, nhà văn Mao Thuẫn, Ba Kim, Lão Xá và Tào Ngu trở thành những cây bút hàng đầu của nền văn học mới, sẽ trở thành những nhà văn cộng sản đầu tiên năm 1921 Đảng Cộng sản TQ ra đời . . .và tiếp tục sáng tác về Giai đoạn hai 1949-1965 nền văn học xã hội chủ nghĩa giai đoạn đầuvăn học sáng tác theo tư tưởng văn nghệ mao trạch đông. ngoài những tác giả lão thành có mặt từ giai đoạn đầu, thêm những tên tuổi mới chu lập ba, ngải thanh, nữ sĩ dương mạt, la quảng bân, điền hán. vvnhững tác phẩm tràn đầy hào khí cách mạng nhưng nghệ thuật còn non yếu, kéo dài 16 năm cuộc cải cách ruộng đất nông thôn đấu tổ địa đã mắc sai lầm nghiêm trọng như thời cổ đại. tiếp đó công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những mô hình ấu trĩ duy ý chí nhưcông xã nhân dân, phong trào đại nhảy vọt. tình trạng quan liêu, cửa quyền, tham nhũng triền miên, kinh tế suy đốn . . xã hội điêu tàn, chính trị khủng hoảng, văn nghệ khô cứng. tình trạng đó tất yếu phải dẫn đến một sự đổ vỡ nào đó. vai trò lãnh đạo của chủ tịch mao trạch đông suy yếu. cặp lâm bưu- giang thanh rồi đến bè lũ 4 tên chụp lấy cơ hộ nhảy ra .- Giai đoạn 3 1966-1976 10 năm động loạn Đại cách mạng văn hoá vô sảnThực chất cách mạng văn hoá chỉ diễn ra trong 3 năm 1966-1969 nhưng hậu quả kéo dài đến 1979 và lâu dài hơn. Lịch sử gọi đó là 10 năm động loạn, văn học nghệ thuật chân chính bị tê liệt .Thay vì cải tổ cải cách, vực dậy tình trạng suy đốn của đất nước, Lâm Bưu, Giang Thanh và bè lũ 4 tên âm mưu cướp đoạt quyền lãnh đạo Đảng, Nhà nước bằng cách mở chiến dịch mang tên Đại cách mạng văn hoá vô sản. Nhân danh cách mạng chân chính, thực chất họ là phái tả nghĩa là duy trì cách mạng vô sản một cách cực đoan, tiến hành vội vã, làm ẩu, áp đặt, bất chấp thực tiễn và bỏ qua qui luật, đốt cháy giai đoạn. Họ tung nhiều chưởng tàn bạo, dã man đạp thêm cho đất nước Trung Hoa ngày càng dúi sâu xuống vũng bùn suy đồiHọ chọn đột phá khẩu là phê phán văn nghệ tư sản và đả kích vạch mặt phái hữu nghĩa là tư tưởng rút lui, không kiên trì cách mạng vô sản, có ý muốn theo con đường tư bản chủ nghĩa, đó chỉ là cái cớ để triệt hạ tất cả những con người ưu tú nhất của đất nước. Lịch sử TQ sẽ không bao giờ quên 10 năm động loạn khủng khiếp hơn cả thời đế chế Tần Thuỷ Hoàng. Trong thời xây dựng hoà bình mà có tới hàng triệu người, trong đó có hàng trăm văn nghệ sĩ cách mạng bị bức hại đến chết, tất cả trường đại học, học viện đóng cửa Văn học Trung Quốc giai đoạn này bị tê liệt nếu chưa nói là bị tiêu diệt. Lúc này, đất nước Việt Nam đang tập trung kiên trì kháng chiến chống Mỹ cứu nước, không chịu ảnh hưởng của đại cách mạng văn hoá vô sản Trung Quốc - Giai đoạn 4 1977-1982 và tiếp tục tới nay gọi là Văn học đương đạiTừ sau 1976 đến 1982. Những người đảng viên cộng sản chân chính với sự ủng hộ của quần chúng cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống lại bè lũ bốn tên đã giành lại quyền lãnh đạo cách mạng. Đất nước TQ tìm ra đường lối mở cửa, phong trào bốn hiện đại hoá theo đường lối tư tưởng của lãnh tụ Đặng Tiểu Bình. Văn học cuộn mình trỗi dậy. Dòng văn học vết thương, dòng văn học sám hối với những tác phẩm sục sôi đòi thanh toán nỗi uất ức 10 năm khủng khiếp, triệt để phê phán giai đoạn sai lầm ấu trĩ, từ đây mở ra thời kì phục hưng văn học nghệ thuật. Văn chương giữ vai trò tiên phong trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật và đời sống tinh thần của công chúng Trung Quốc Kể từ những năm 1982 về sau, văn học trăm hoa đua nở bách hoa tranh khai. Những cây bút trẻ hăm hở tìm tòi phương pháp mới đồng thời kế thừa những phương pháp truyền thống của Trung Quốc và nhân loại. Nhiều phong cách mới, tác giả mới xuất hiện, mau chóng tạo ra sức hút mạnh mẽ trong đời sống văn học nghệ thuật hồi sinh. Có thể nói, cuộc lột xác để phục hưng của văn học Trung Quốc thật đớn đau, phải trả bằng những giá đắt chưa từng có trong lịch năm Đường Thi để lại được 54 000 bài thơ, trung bình mỗi năm sáng tác được 80 bài. 600 năm Minh-Thanh chỉ để lại trên 10 bộ tiểu thuýêt tiêu biểu kiệt xuất, trung bình mỗi thế kỉ có 2 bộ truyện hay với tổng số khoảng 200 truyện. Thế mà chỉ cần 10 năm đổi mới, văn học hiện đại đã xuất bản được hàng trăm bộ tiểu thuyết trong đó hơn 10 bộ tiểu thuyết xuất sắc tiêu biểu Văn học đương đại TQ đang ở trong thời kì được mùa chưa từng có trong lịch sử văn học ba nghìn năm của nước Đại diện cho văn học Trung Quốc hiện đại LỖ TẤN.* LỖ TẤN 1881- 1936Người đặt nền móng cho văn nghệ cách mạng Trung Tấn 1881-1936 là nhà văn vĩ đại của Trung Quốc và của thế giới. Lỗ Tấn được xem là Gorky của Trung Quốc, là bậc thầy của dòng văn học hiện thực chủ nghĩa thế kỷ XX ở Trung Quốc. Sự nghiệp sáng tác văn học của ông gắn bó với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân Trung Quốc. Chủ tịch Mao Trạch Đông đánh giá Lỗ Tấn là vị chủ tướng của phong trào cách mạng văn hoá Trung Quốc, ông không chỉ là nhà văn vĩ đại, mà còn là nhà tư tưởng, nhà cách mạng vĩ đại. Giáo sư Lương Duy Thứ nhận định Thế kỷ văn học này gắn bó chặt chẽ với tư tưởng và tác phẩm của văn hào vĩ đại Lỗ Tấn. Lỗ Tấn là nhà văn của thời đại Ngũ Tứ, thời đại trăn trở tìm đường của dân tộc Trung Quốc dưới ánh sáng của lí luận mác xít. Tác phẩm của ông, đặc biệt là tạp văn đã phản ánh sâu sắc và phong phú về con người và thời đại Trung Quốc trong giai đoạn lịch sử đầy máu và nước mắt. Theo nhà văn Hữu Thỉnh, tại một số bảo tàng văn học trên thế giới, cứ sau một thời gian, người ta lại tiến hành thay đổi vị trí trưng bày, quy mô sắp xếp hiện vật của các nhà văn tuỳ theo kết quả nghiên cứu, đánh giá thăm dò dư luận. Ở bảo tàng văn học đương đại Trung Quốc thì sự thay đổi đánh giá diễn ra càng nhanh hơn. Nhưng cho dù Mao Thuẫn, Lão Xá, Quách Mạt Nhược, Đinh Linh, Tào Ngu có xê dịch như thế nào thì vị trí của Lỗ Tấn vẫn không thay đổi. Trước sau ông vẫn ung dung một mình một gian trang trọng nhất ở trung tâm của bảo tàng. Việc nghiên cứu những sáng tác của nhà văn này đã được tiến hành ở Việt Nam tương đối sớm, tuy nhiên còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục tìm đời, sự nghiệp và quá trình tư tưởng của Lỗ Tấn có thể chia ra ba giai đoạn như sauTHỜI KỲ TRƯỚC NGŨ TỨ1881- 1918Thời thơ ấu từ 6 đến 17 tuổi, Lỗ Tấn học ở trường tư thục quê nhà. Ông học rất thông minh. ọc hầu hết các thư tịch cổ Trung Quốc. ặc biệt thích đọc dã sử, thích nghe truyền thuyết, xem hát tuồng và tranh dân gian. Thị hiếu và sở trường văn nghệ của ông được hình thành từ sớm. Mặt khác, vì gia đình sa sút, ông hay đi lại với con em nông dân lao động ở quê nhà. Tắm mình trong tình cảm chân thành và hồn hậu ấy, Lỗ Tấn bú được sữa sói rừng mà lớn lên, dần dần trở thành đứa con bất hiếu của giai cấp phong kiến,bề tôi hai lòngcủa tầng lớp thân hội Trung Quốc biến động kịch liệt, chính quyền Mãn Thanh quì gối đầu hàng trước sự xâm lăng của các đế quốc, phong trào yêu nước của nhân dân phát triển rầm rộ. Lỗ Tấn được cổ vũ mạnh mẽ. Ông giã từ gia đình và quê hương đi tìm đường hoạt 18 tuổi, Lỗ Tấn đến Nam Kinh, thi vào Thuỷ sư học đường đào tạo nhân viên hàng hải. Hai năm sau lại thi vào Khoáng lộ học đường đào tạo kỹ sư mỏ. ây là những trường tây học, dạy kiến thức khoa học mới, khác hẳn với các trường hán học chỉ dạy tứ thư, ngũ kinh. Tầm mắt anh mở rộng, thay đổi nếp tư duy. Hoài nghi truyền thống cũ và hướng đến sự cải cách, Lỗ Tấn rất say mê cuốn Thiên diễn luận của Husley nhà sinh vật học người Anh giải thích sự biến hoá vũ trụ và vạn vật theo quan điểm thuyết tiến hoá Darwin nhà sinh học vĩ đại Anh. Lỗ Tấn chịu ảnh hưởng sâu sắc và từ đó, thế giới quan của ông chịu sự chi phối của thuyết tiến hoá trong một thời gian tương đối dài. Ông tin tưởng rằng sinh mệnh lớp sau bao giờ cũng có ý nghĩa hơn, hoàn thiện hơn lớp trước, tương lai sẽ sáng sủa hơn hiện tại vì lực lượng mới sẽ thay thế lực lượng cũ. Từ đó ông ca ngợi sự đổi mới, kêu gọi phản kháng, căm ghét truyền thống trì trệ. Năm 1902, sau khi tốt nghiệp Khoáng lộ học đường, Lỗ Tấn được chọn đi du học ở Nhật Bản. Trước tiên ông học ngành y. Ông muốn dùng y học để cứu dân, trước hết là chữa chạy cho những người nghèo đói, dốt nát, mê tín khỏi bị chết oan như bố ông. Học sinh Trung Quốc học ở Nhật khá đông. Quang Phục Hội là tổ chức lãnh đạo cách mạng Tân Hợi 1911 sau này, cũng hoạt động sôi nổi ở Tokio. Lỗ Tấn tham gia Quang Phục Hội với quyết tâm cứu nước. Về sau, nhân một lần xem phim , ông bị kích động mạnh mẽ và chuyển sang làm văn nghệ ông thấy người Trung Quốc vui thú khi xem phim có cảnh người Nhật chém một người Trung Hoa vì tội làm gián điệp cho quân Nga thời chiến tranh Nga Nhật. Lỗ Tấn nghĩ rằng chữa bệnh cho họ về thể xác còn chưa quan trọng bằng chữa bệnh cho họ về tinh thần. Từ đó ông quyết tâm dùng ngòi bút để thức tỉnh tinh thần dân tộc và ý chí tự lập tự cường của người Trung Hoa. Ông ra sức phiên dịch giới thiệu các trước tác khoa học cũng như các tác phẩm văn nghệ thế giới. ặc biệt ông viết tập Sức mạnh của dòng thơ ma quỷ giới thiệu những nhà thơ đấu tranh cho tự do như Byron, Shelli Anh Puskine, Lermontov Nga với hy vọng mượn ý chí phản kháng và quyết tâm hành động của họ để thức tỉnh tinh thần dân năm trước Cách mạng Tân Hợi, năm 1909 vì gia đình quẫn bách, Lỗ Tấn dời Nhật trở về nước nuôi mẹ và em. Ông dạy học ở các trường trung học quê nhà và làm hiệu trưởng trường sư phạm Thiệu Hưng. Năm 1911, Cách mạng Tân Hợi bùng nổ, ông hưởng ửng sôi nổi. Với quốc hiệu Trung Hoa dân quốc, cuộc cách mạng tư sản này không đem lại cho xã hội Trung Quốc sự thay đổi nào đáng kể. Lỗ Tấn không khỏi thất vọng. Còn đối với Cách mạng vô sản, ông chưa có nhận thức rõ ràng, phần nào hoài nghi, giai cấp công nhân chưa hình thành một lực lượng chính trị độc lập, ông rơi vào đau khổ, trầm KỲ 1918 1927 Cách mạng Tháng Mười Nga rung động, thức tỉnh dân tộc Trung Hoa và tâm hồn nhà yêu nước Lỗ Tấn. Ông đăng thiên truyện đầu tay Nhật ký người điên trên tạp chí Tân Thanh Niên. ó là phát súng mở đầu của cuộc cách mạng văn hoá và tư tưởng Ngũ tứ ở Trung Quốc công kích lễ giáo và chế độ phong kiến. Hàng loạt các truyện khác tiếp nối ra đời. Khổng Ất Kỷ, AQ chính truyện, Lễ cầu phúc .Những truyện này sau được soạn thành hai tập Gào thét và Bàng hoàng. Ông còn viết nhiều bài tạp văn sắc bén lên án xã hội đế quốc phong kiến và những tập quán xấu của xã hội cũ. Lỗ Tấn còn tham gia chỉ đạo phong trào thanh niên yêu nước khoảng năm 1920 1925, ông là giáo sư các trường ại học ở Bắc Kinh, và lãnh đạo sinh viên lập nhóm văn học, xuất bản báo và tạp chí cổ động cách mạng. Ông đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh của sinh viên trường ại học nữ sư phạm Bắc Kinh chống lại tên Bộ trưởng Giáo dục phản động Ông trở thành lãnh tụ tư tưởng của sinh viên lúc bấy liên quan
văn học trung quốc thời đường