văn học chữ hán và chữ nôm
Tự học chữ Nôm ra đời nhằm phục vụ rộng rãi người học và nghiên cứu chữ Nôm. Cuốn sách hữu ích với cả người chưa biết chữ Hán. Sau khi học xong và nhớ được các kiểu loại chữ Nôm hiện có trong sách, người học sẽ có cơ sở vững chắc để tự học và đọc
Bạn đang xem: Chữ nôm là gì. Cả hai từ 'văn học' và 'du mục' trong 'du mục' đều là những từ Hán Việt cổ. trong đó từ "từ" có nguồn gốc từ cách phát âm tiếng Trung của từ "tôi" (字).
Và nếu âm Hán Việt có từ thời Đường, Tống thì chữ Nôm không thể ra đời trước khi cố định cách đọc Hán Việt (nếu xét chữ Nôm với tư cách hệ thống văn tự) và chỉ có thể ra đời sau khoảng thế kỷ thứ 10 khi người Việt thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc với
Văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Truyện cười Việt Nam được chia thành mấy loại? 02: Kết chuỗi và không kết chuỗi. Truyện cổ tích Việt Nam được chia làm mấy loại? 03: về loài vật, thần kỳ, thế tục.
Những câu đối tết chữ Hán Việt và Hán Nôm ý nghĩa. Câu đối 13: Tiên tổ phương danh lưu quốc sử. Tử tôn tích đức hiển gia phong. (Tổ tiên để lại tiếng thơm trong sử sách - Con cháu tích đức thì gia phong được hiển hách) Câu đối 14: Niên hữu tứ thời, xuân vi thủ
Trong chữ Hán có các thể chữ là triện, lệ, khải, hành, thảo. Trong đó, chữ khải là thể chữ nghiêm cẩn, phát triển từ Lệ thư, đường nét giản lược, hình thể phương chính (ngay thẳng), đường nét bằng thẳng (so sánh tương quan so với các thể chữ trước đây). Chữ mà chúng ta tiếp xúc hàng ngày trong sách báo để phục vụ người đọc đa phần là khải thư.
Evay Vay Tiền. Chữ Nôm là loại văn tự được người Việt tạo ra dựa trên chữ Hán, được sử dụng nhiều từ thế kỉ X đến XX. Đã có rất nhiều tác phẩm nổi tiếng của Việt Nam được viết bằng chữ Nôm. Chữ Nôm là gì? Cả hai từ “chữ” và “Nôm” trong “chữ Nôm” đều là các từ Hán Việt cổ. Trong đó từ “chữ” bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán của chữ “tự” 字. Còn từ “Nôm” bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán của chữ “nam” 南. Như vậy, ý tên gọi chữ Nôm là thứ chữ dùng để ghi chép tiếng nói của người phương Nam, tức là người Việt. Vậy thì chữ Nôm là loại chữ gì? Là hệ thống văn tự ngữ tố dùng để viết tiếng Việt, được tạo ra dựa trên cơ sở là chữ Hán. Nó bao gồm các từ Hán Việt và một hệ thống các từ vựng khác được tạo ra dựa vào việc vận dụng phương thức tạo chữ hình thanh, giá tả, hội ý của chữ Hán để tạo ra các chữ mới bổ sung cho việc viết. Cũng như việc biểu đạt các từ thuần Việt không có trong bộ chữ Hán ban đầu. – Ví dụ 1 Chữ bán 半 trong chữ Hán có âm Hán Việt là bán nghĩa là một nửa, nhưng chữ Nôm mượn âm và hiểu theo nghĩa là bán trong mua bán. – Ví dụ 2 Có những chữ Nôm lại mượn nghĩa của hai chữ Hán để tạo ra âm Nôm như từ mệt được ghép bởi chữ 亡 vong nghĩa là mất + chữ 力 lực nghĩa là sức, tức là mất sức nên mệt. – Ví dụ 3 Chữ trời được ghép bởi chữ thiên 天 và thượng 上 thượn, thiên ở trên là trời. Chữ Hán Chữ Hán hay còn gọi là Hán tự là chữ Trung Quốc. Trong chữ Hán bao gồm có 2 loại Chữ Hán cổ phồn thể và chữ Hán hiện đại chữ giản thể. Đây là một dạng chữ viết biểu ý của Trung Quốc sau đó đã du nhập vào các nước lân cận như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Từ đó tạo nên vùng văn hóa chữ Hán, tại các nước này chữ Hán được vay mượn để tạo nên ngôn ngữ mới cho mỗi nước. Trong các văn bản ở Việt Nam, chữ người Việt dùng được gọi là chữ Nho, tức là chữ Hán cổ. Tuy nhiên, người Việt không phát âm chữ Hán như người Trung Quốc bằng cách dùng Pinyin để đọc. Mà người Việt đọc bằng âm Hán Việt, đây là một sáng tạo mới trong việc củng cố phát âm chữ Hán của người Việt. Chữ Quốc ngữ Chữ Quốc ngữ là hệ chữ viết chính thức trên thực tế de facto hiện nay của tiếng Việt. Bộ chữ Quốc ngữ sử dụng các ký tự Latinh, dựa trên các bảng chữ cái của nhóm ngôn ngữ Rôman đặc biệt là bảng chữ cái Bồ Đào Nha, với các dấu phụ chủ yếu từ bảng chữ cái Hy Lạp. Tên gọi “chữ quốc ngữ” được dùng để chỉ chữ quốc ngữ Latinh lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1867 trên Gia Định báo. Tiền thân của tên gọi này là chữ Tây quốc ngữ. Về sau từ Tây bị lược bỏ đi để chỉ còn là chữ quốc ngữ. “Quốc ngữ” nghĩa mặt chữ là ngôn ngữ quốc gia, ở Việt Nam nếu không có từ bổ nghĩa kèm theo cho thấy từ quốc ngữ được dùng để một ngôn ngữ nào khác thì quốc ngữ mặc định là chỉ tiếng Việt. Văn học chữ Nôm và các tác phẩm nổi tiếng Việt Nam Văn học chữ Nôm bao gồm các sáng tác bằng chữ Nôm, ra đời muộn hơn văn học chữ Hán khoảng cuối thế kỉ XIII, tồn tại, phát triển đến hết thời kì văn học trung đại. Văn học chữ Nôm chủ yếu là thơ, rất ít văn xuôi. Trong văn học chữ Nôm, chỉ một số thể loại tiếp thu từ Trung Quốc như phú, văn tế, thơ Đường luật. Còn phần lớn là thể loại văn học dân tộc như ngâm khúc viết theo thể song thất lục bát, truyện thơ lục bát, hát nói viết theo thể thơ tự do kết hợp với âm nhạc, hoặc thể loại văn học Trung Quốc đã được Việt hóa như thơ Đường luật thất ngôn xen lục ngôn. Văn học chữ Nôm có những thành tựu lớn ở tất cả các thể loại kể trên. Truyện Kiều bằng chữ Nôm Truyện Kiều của Nguyễn Du Chinh Phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm – Đặng Trần Côn Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều Tống Trân Cúc Hoa Phạm Công Cúc Hoa Sau phút chia li – Đoàn Thị Điểm Bánh trôi nước – Hồ Xuân Hương Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan Bạn đến chơi nhà – Nguyễn Khuyến Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác – Phan Bội Châu Đập đá ở Côn Lôn – Phan Châu Trinh Muốn làm thằng Cuội – Tản Đà Hai chữ nước nhà – Trần Tuấn Khải Trên đây là một số thông tin khái quát về chữ Nôm. Bác Nhã hy vọng đã cung cấp cho bạn những điều còn băn khoăn. Đừng quên cập nhật website để đọc các bài viết hay nhé! Xem thêm Tuyển tập 1 số file luyện viết chữ Hán miễn phí Những kỹ năng giao tiếp tiếng Trung khi gặp khách hàng
Chữ Nôm 字喃 hay còn được gọi là quốc âm, là một hệ chữ ngữ tố được dùng để viết tiếng Việt được tạo ra dựa trên cơ sở là chữ Hán. Nó bao gồm các từ Hán Việt và một hệ thống các từ vựng mới khác được tạo ra dựa vào vận dụng phương thức tạo chữ hình thanh, hội ý, giả tá của chữ Hán. Chữ nôm là gì? Phân biệt khái niệm chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữChữ Nôm là gì?Chữ HánChữ quốc ngữChữ Nôm khác chữ Hán như thế nàoNguồn gốc và diễn biến phát triển của chữ nômNhững cách tạo ra chữ NômCách viết chữ Nôm như thế nào?Các phần mềm viết chữ Hán NômChữ Nôm của các dân tộc, quốc gia khác Chữ nôm là gì? Phân biệt khái niệm chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ Chữ Nôm là gì? Cả hai từ “chữ” và “Nôm” trong chữ Nôm đều là các từ Hán Việt cổ. Trong đó từ chữ bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán của chữ tự 字. Còn từ “Nôm” bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán của chữ nam 南. Như vậy, ý tên gọi chữ Nôm là thứ chữ dùng để ghi chép tiếng nói của người phương Nam, tức là người Việt. Vậy thì chữ Nôm là loại chữ gì? Chữ Nôm là hệ thống văn tự ngữ tố dùng để viết tiếng Việt, được tạo ra dựa trên cơ sở là chữ Hán. Nó bao gồm các từ Hán Việt và một hệ thống các từ vựng khác được tạo ra dựa vào việc vận dụng phương thức tạo chữ hình thanh, giá tả, hội ý của chữ Hán để tạo ra các chữ mới bổ sung cho việc viết. Cũng như việc biểu đạt các từ thuần Việt không có trong bộ chữ Hán ban đầu. Chữ Hán Chữ Hán hay còn gọi là Hán tự là chữ Trung Quốc. Trong chữ Hán bao gồm có 2 loại Chữ Hán cổ phồn thể và chữ Hán hiện đại chữ giản thể. Đây là một dạng chữ viết biểu ý của Trung Quốc sau đó đã du nhập vào các nước lân cận như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Từ đó tạo nên vùng văn hóa chữ Hán, tại các nước này chữ Hán được vay mượn để tạo nên ngôn ngữ mới cho mỗi nước. Trong các văn bản ở Việt Nam, chữ người Việt dùng được gọi là chữ Nho, tức là chữ Hán cổ. Tuy nhiên, người Việt không phát âm chữ Hán như người Trung Quốc bằng cách dùng Pinyin để đọc. Mà người Việt đọc bằng âm Hán Việt, đây là một sáng tạo mới trong việc củng cố phát âm chữ Hán của người Việt. Chữ quốc ngữ Chữ Nôm và chữ quốc ngữ là hai hệ chữ dùng để viết tiếng Việt, tuy nhiên chúng có những vai trò khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử cũng như văn hóa của người Việt. Chữ quốc ngữ được các nhà truyền giáo Dòng Tên tại Việt Nam sáng tạo dựa trên các ký tự Latin vào nửa đầu thế kỷ 17, tuy nhiên tại thời điểm này hệ chữ này vẫn chưa được sử dụng rộng rãi. Đến thời kỳ Pháp thuộc, chính quyền thuộc địa thực hiện chế độ đồng hóa nhân dân ta nên đã hạn chế ảnh hưởng của Hán học cùng chữ Hán. Từ đây, sự suy giảm của chữ Hán của dẫn đến sự giảm sút của chữ Nôm. Cũng từ đó, chữ quốc ngữ đã được dùng làm văn tự thay thế để viết tiếng Việt. Trong giai đoạn đầu, bất chấp việc chính quyền Pháp làm mọi cách ngăn cản việc học chữ trong nhân dân. Các sĩ phu yêu nước vẫn vận động ủng hộ chữ quốc ngữ trong các phong trào phổ biến tân học và lan truyền tư tưởng yêu nước. Ngay nay, tiếng Việt được viết hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ. Trong đó có rất ít người có thể đọc viết được chữ Nôm. Chính điều này đã dẫn đến nhiều người cho rằng chữ quốc ngữ đã làm lu mờ vị thế của chữ Nôm. Tuy nhiên thì hai hệ chữ này không loại trừ nhau, nghĩa là người ta vẫn có thể học đồng thời cả hai hệ chữ vẫn được. Chữ Nôm khác chữ Hán như thế nào Để phân biệt chữ Hán và chữ Nôm rất đơn giản. Chữ Hán là ngôn ngữ của người Trung Quốc, ngày xưa nó còn được gọi là chữ Nho, tức là chữ dùng để dạy cho đạo. Bên cạnh đó còn được gọi với các tên khác là chữ Hoa, chữ Trung hay chữ Tàu. Còn chữ Nôm là chữ do người Việt ngày xưa sáng tạo để viết tiếng Việt và một phần của chữ Nôm được tạo ra dựa trên chữ Hán. Nguồn gốc và diễn biến phát triển của chữ nôm Về nguồn gốc của chữ Nôm có rất nhiều giải thiết trong lịch sử về chữ Nôm có từ bao giờ, chữ Nôm ra đời khi nào. Nhưng theo các nhà nghiên cứu căn cứ vào đặc điểm cấu trúc nội tại của chữ Nôm, dựa vào cứ liệu ngữ âm lịch sử tiếng Hán và tiếng Việt. So sánh đối chiếu hệ thống âm tiếng Hán và tiếng Hán Việt đã đi tới khẳng định âm Hán Việt âm của người Việt đọc chữ Hán ngày nay bắt nguồn từ thời Đường-Tống thế kỷ 8-9. Tức sau khi Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của Trung Quốc vào năm 939. Chữ Nôm lần đầu tiên được sử dụng làm chữ quốc ngữ để diễn đạt tiếng Việt qua mẫu tự biểu ý dùng để chỉ cách gọi địa danh hoặc các khái niệm không có trong Hán văn. Sau đó từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 20 một phần lớn các tài liệu văn học, triết học, sử học, luật pháp, tôn giáo, hành chính đều được viết bằng chữ Nôm. Trong khoảng 10 thế kỷ, chữ Nôm là công cụ thuần Việt ghi lại lịch sử văn hóa của dân tộc ta, mặc dù nó vẫn chưa chứng tỏ được tính hữu hiệu và phổ biến so với chữ Hán. Hệ chữ viết này dần dần mai một sau khi chữ quốc ngữ được phổ biến vào đầu thế kỷ 20. Ngày nay, trên thế giới còn rất ít người đọc được chữ Nôm, tưởng chừng như một giai đoạn lịch sử Việt Nam đang dần bị xóa mờ trong tâm trí của các thế hệ người Việt Nam sau này. Những cách tạo ra chữ Nôm Về cách tạo ra chữ Nôm, cấu tạo của chữ Nôm Mượn cả âm và nghĩa của chữ Hán Mượn cả âm Hán Việt và nghĩa của chữ Hán để ghi lại các từ Hán Việt. Âm Hán Việt có ba loại là – Âm Hán Việt tiêu chuẩn Có nguồn gốc từ ngữ âm tiếng Hán thời Đường. Ví dụ Thuận lợi /順利/, công thành danh toại /功成名遂/ – Âm Hán Việt cổ Có nguồn gốc từ ngữ âm tiếng Hán trước thời Đường. Ví dụ Bay /飛/, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “phi”; buồng /房/, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “phòng”. – Âm Hán Việt Việt hoá Là các âm gốc Hán bị biến đổi cách đọc do ảnh hưởng của quy luật ngữ âm tiếng Việt. Ví dụ Nhà /家/, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “gia”. Mượn âm chữ Hán, không mượn nghĩa Mượn âm chữ Hán không mượn nghĩa tức là mượn các từ Hán đồng âm hoặc cận âm để ghi âm tiếng Việt. m mượn có thể là một trong ba âm nói trên, khi đọc có thể đọc giống với âm mượn hoặc đọc lệch đi. Ví dụ – Đọc giống như âm Hán Việt tiêu chuẩn Chữ “một” 沒 có nghĩa là “chìm” được mượn dùng để ghi từ “một” trong “một mình”, Chữ “tốt” 卒 có nghĩa là “binh lính” được mượn dùng để ghi từ “tốt” trong “tốt xấu”, – Đọc chệch âm Hán Việt tiêu chuẩn Gió /這/ mượn âm “giá” Cửa /舉/ mượn âm “cử” Đêm /店/ mượn âm “điếm” Chạy /豸/ mượn âm “trãi” – Đọc giống như âm Hán Việt cổ Chữ “keo” /膠/ trong “keo dán”, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “giao” được dùng để ghi lại từ “keo” trong “keo kiệt”, Chữ “búa” /斧/ trong “cái búa”, âm Hán Việt tiêu chuẩn là “phủ” được dùng để ghi lại từ “búa” trong “chợ búa” . Mượn nghĩa chữ Hán, không mượn âm Trái ngược với mượn âm không mượn nghĩa, mượn chữ Hán đồng nghĩa hoặc cận nghĩa để ghi lại âm tiếng Việt. Ví dụ Chữ “dịch” 腋 có nghĩa nghĩa là “nách” được dùng để ghi lại từ “nách” trong “hôi nách”, Chữ “năng” 能 có nghĩa là “có tài, có năng lực” được dùng để ghi lại từ “hay” trong “văn hay chữ tốt”. Tạo chữ ghép Tạo chữ ghép hay còn gọi là chữ hợp thể là chữ được tạo ra bằng cách ghép hai hoặc nhiều hơn chữ khác thành một chữ. Và các chữ cấu thành nên chữ ghép có thể đóng vai trò là thanh phù hoặc nghĩa phù hoặc đồng thời cả thanh phù và nghĩa phù. Chúng cũng có thể được viết nguyên dạng hoặc viết tỉnh lược đi mất một phần hoặc thay bằng chữ giản hóa. Thanh phù luôn có âm đọc giống hoặc gần giống với âm đọc của chữ ghép. Một số ví dụ về chữ ghép “Chân” /蹎/, chân trong “chân tay” được cấu thành từ chữ “túc” 足 và chữ “chân” 真. “Túc” 足 có nghĩa là “chân” được dùng làm “nghĩa phù” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép. Tuy nhiên, chữ “túc” 足 khi đứng ở bên trái phải viết dưới dạng biến thể gọi là “bàng chữ túc” ⻊. Còn chữ “chân” 真 trong “chân thành” đồng âm với “chân” trong “chân tay” được dùng làm thanh phù biểu thị âm đọc của chữ ghép. “Khói” được cấu thành từ chữ “hỏa” 火 và chữ “khối” 塊 bị tỉnh lược bộ “thổ” 土 ở bên trái chữ “khối” 塊. “Hỏa” 火 có nghĩa là lửa, gợi ý nghĩa của chữ ghép lửa cháy tạo ra khói, còn chữ “khối” 塊 gợi âm đọc của chữ ghép. “Trời” được cấu thành từ chữ “thiên” 天 có nghĩa là “trời” và chữ “thượng” 上 có nghĩa là “trên”, ý là “trời” thì nằm ở trên cao. Trong tiếng Việt hiện đại, không có phụ âm kép nhưng trong tiếng Việt từ giai đoạn trung đại trở về trước thì có phụ âm kép. Trong chữ Nôm hợp thể, để biểu thị các phụ âm kép thì người ta dùng một hoặc hai chữ làm thanh phù. Còn dùng hai chữ làm thanh phù thì một chữ sẽ dùng để biểu thị phụ âm thứ nhất của phụ âm kép, còn chữ còn lại biểu thị phụ âm thứ hai của phụ âm kép. Các vị dụ như “blăng” Từ này hiện nay đã biến đổi thành “trăng, giăng”. Chữ “blăng” được cấu thành từ chữ “ba” 巴, chữ “lăng” 夌 và chữ “nguyệt” 月. “Ba” 巴 biểu thị phụ âm thứ nhất “b” của phụ âm kép “bl”, “lăng” 夌 biểu thị phụ âm thứ hai “l” và phần vần của từ “blăng”, “nguyệt” 月 có nghĩa là “mặt trăng” biểu thị ý nghĩa của chữ ghép này. “tlòn” Chữ này hiện nay đã biến đổi thành “tròn”. Chữ “tlòn” được cấu thành từ chữ “viên” 圓 bị tỉnh lược bộ “vi” 囗 ở phía ngoài thành “員” và chữ “lôn” 侖. “Viên” 圓 có nghĩa là “tròn” được dùng làm nghĩa phù. “Lôn” 侖 là thanh phù, biểu thị phụ âm thứ hai “l” của phụ âm kép “tl” và phần vần của từ “tlòn”. Lược bớt nét của chữ Hán để đọc chệch đi Lược bớt ít nhất là một nét của một chữ Hán nào đó để gợi ý cho người đọc biết rằng chữ này phải đọc chệch đi. Ví dụ Chữ “ấy” Được tỉnh lược nét chấm “丶” trên đầu chữ “ý” 衣. Việc lược bớt nét bút này gợi ý cho người đọc biết rằng chữ này không đọc là “y” hay “ý” mà cần đọc chệch đi. Mượn âm của chữ Nôm có sẵn Dùng chữ Nôm có sẵn để ghi lại từ tiếng Việt đồng âm hoặc cận âm nhưng khác nghĩa hoặc đồng nghĩa nhưng khác âm với các chữ đi mượn. Khi đọc có thể đọc giống với âm của chữ được mượn hoặc đọc chệch âm đi. Ví dụ – Đọc giống với âm đọc của chữ được mượn Chữ “chín” trong “chín người mười ý được dùng để ghi từ “chín” trong “nấu chín”. – Đọc chệch âm Chữ “đá” trong “hòn đá” được dùng để ghi từ “đứa” trong “đứa bé”. Chữ Nôm có 37 ký tự và một số quy tắc viết nhất định. Do đó bất cứ ai cũng có thể học nó trong vài ngày, thậm chí đối với vài người chỉ mất vài giờ. Việc học và viết chữ Nôm Việt Nam là làm sống lại chữ Hán Việt trong Tiếng Việt của chúng ta. Nếu bất cứ ai viết và hiểu được 40% vốn từ Hán Việt thì xem như đã tiếp xúc với quá khứ của dân tộc qua chữ viết. Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tiếng Hoa, Nhật, Hàn vì tiếng Nhật và Hàn cũng như tiếng Việt, trên 50% là Hán Tự nên việc học những tiếng này cũng dễ hơn rất nhiều. Về cách học chữ Nôm, trong trường hợp ta viết các từ Hán Việt thì nên dùng các từ ghép. Vì nếu sử dụng được 1000 từ ghép có chọn lọc, có nghĩa là ta biết tối thiểu 1500 từ Hán do đó việc nghiên cứu vào kho Hán Nôm xưa là có cơ sở. Sau khi nếu được sử dụng được tương đối nhuần nhuyễn, ta nên đưa vào khoảng 100 từ đơn xem như bất quy tắc để cho khi viết hình thức sẽ trở nên phong phú và hay hơn. Các phần mềm viết chữ Hán Nôm Hiện nay có rất nhiều phần mềm máy tính tạo ra ký tự chữ Nôm bằng cách gõ chữ quốc ngữ. Một số ứng dụng mà có thể chạy trên hệ điều hành Windows các bạn có thể tham khảo như HanNomIME là phần mềm chạy trên Windows hỗ trợ cả chữ Hán và chữ nôm. Vietnamese Keyboard Set hỗ trợ gõ chữ Nôm và chữ Hán trên Mac OS X. WinVNKey là bộ gõ đa ngôn ngữ trên Windows hỗ trợ gõ chữ Hán và chữ Nôm bằng âm Quốc ngữ. Weasel Hannom là bộ gõ của Ủy ban phục sinh Hán Nôm được xây dựng trên cơ sở bộ gõ Weasel. Phông chữ Nôm nằm trong cơ sở dữ liệu Unihan. Viet Unicode là phông Unicode chứa các ký tự chữ Nôm nó là phông TrueType có thể tải về từ trên các trang web. Chữ Nôm của các dân tộc, quốc gia khác Chữ Nôm của các dân tộc Việt Nam Ở Việt Nam, ngoài dân tộc Kinh thì còn có một vài dân tộc thiểu số khác như Tày, Dao, Ngạn cũng có chữ Nôm riêng dựa trên chữ Hán để lưu lại ngôn ngữ của dân tộc họ. Chữ Nôm của các nước khác Theo như cách diễn giải của người xưa, thì chữ Nôm là chữ của người phương Nam. Tuy nhiên, nếu mở rộng khái niệm này ra cho tất cả các hệ chữ được sáng tạo dựa trên chữ Hán. Thì còn có những chữ của các dân tộc phương bắc như Nhật Bản là chữ Nôm Nhật và Triều Tiên là chữ Nôm Triều. Ngoài ra còn có chữ Nôm của các dân tộc thuộc Trung Quốc như Tráng, Đồng,… Kokuji trong hệ thống chữ Kanji của người Nhật cũng được tạo ra từ chữ Hán để ghi lại những từ, khái niệm riêng trong tiếng Nhật. Ví dụ như 畑 hatake = 火 hoả + 田 điền, nghĩa là cánh đồng khô, để phân biệt với 田 là ruộng trồng lúa nước; 瓩 kiloguramu = 瓦 ngoã + 千 thiên, nghĩa là kílô-gam. >>>Xem thêm 214 bộ thủ Kanji cơ bản trong tiếng Nhật – Cách viết và phương pháp học Tương tự Kokuji của Nhật Bản, người Triều Tiên cũng dùng chữ Hán để tạo thành một số chữ biểu ý riêng trong hệ thống Hanja của họ. Ví dụ nhu 畓 dap = 水 thuỷ + 田 điền, nghĩa là ruộng nước, để phân biệt với 田 là đồng khô; 巭 bu = 功 công + 夫 phu, nghĩa là người lao động. Trên đây là những chia sẻ của Hicado về chữ Nôm là chữ gì và giải thích chữ Nôm ra đời khi nào, vào thời nào. Hy vọng qua bài viết này, bạn sẽ có thêm nhiều kiến thức mới về hệ chữ Nôm cũng như lịch sửa của nước ta.
Ngoài văn hoá dân gian truyền miệng còn có dòng văn học chữ viết, lúc đầu là chữ Hán, sau chữ Nôm rồi đến chữ Quốc ngữ như ngày nay. Dòng văn học này trải qua nhiều thời kì. Những văn bản sớm nhất hiện tìm thấy có từ thế kỉ thứ X, tạm chia làm hai giai đoạn Từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ XIX Từ đầu thế kỉ XX đến này. Bạn đang xem Các tác phẩm văn học chữ hán Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Trong giai đoạn này, văn học thành văn được viết bằng hai thứ chữ chữ Hán và chữ Nôm. Mặc dù trải qua một nghìn năm Bắc thuộc, người Việt Nam không bị đồng hoá mà dần dần hình thành bản sắc dân tộc riêng biệt. Chữ Nôm xuất hiện từ rất sớm nhưng từ thế kỉ XVI trở đi văn học chữ Nôm mới thịnh hành và đến thế kỉ XVIII thì văn học chữ Nôm chiếm một vị trí rất lớn. Sự phát triển về ý thức dân tộc đã tạo điều kiện cho văn học chữ Nôm ngày càng phát triển. Văn học chữ viết hình thành và phát triển Trong nhiều thế kỉ, văn học chữ Hán chiếm vị trí chủ yếu trừ một vài trường hợp như triều Hồ Quý Ly và Quang Trung coi trọng chữ Nôm, tuy sử dụng chữ Hán nhưng các tác phẩm văn học ấy vẫn thấm đượm tính cách và tâm hồn Việt Nam như bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, những bài thơ ca ngợi chiến thắng của quân dân nhà Trần của Phạm Ngũ. Lão, Trần Quang Khải, Phạm Sư Mạnh, Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi, vv. Tiếp đến là những bộ sử dược viết với một ý thức dân tộc mạnh mẽ Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái, w. Thế kỉ XV, văn học chữ Hán vẫn chiếm ưu thế. Tuy vậy văn học chữ Nôm vẫn không ngừng phát triển. Nguyễn Trãi là người nêu cao tiếng Việt và vận dụng chữ Nôm vào sáng tác văn học. Tập thơ Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi trong thời kì này là một trong những tập thơ Nôm xưa nhất có giá trị đến ngày nay. Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX, văn học chữ Nôm phát triển rực rỡ chiếm ưu thế hoàn toàn trên văn đàn. Những nhà thơ lớn đã khai thác triệt để ngôn ngữ của dân tộc, nhiều tác phẩm tiêu biểu ra đời Thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, w, Từ đầu thế kỉ XX đến nay. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, các tác phẩm văn học bằng chữ Quổe ngữ dần dần xuất hiện. Nền văn học Việt Nam hiện nay không chỉ tiếp thu và chịu ảnh hưởng của nền văn học Trung Quốc mà còn tiếp thu cả nền văn học phương Tây đặc biệt là văn học Pháp, đã đưa nền văn học Việt Nam phong phú hơn và đa dạng hơn về thể loại. Văn học Việt Nam dần dần đã tách khỏi phong cách cổ điển với những điển tích nặng nề, linh hoạt hơn, chính xác hơn và gần với ngôn ngữ hàng ngày hơn. Năm 1925, những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam ra đời Tố Tàm của Hoàng Ngọc Phách, Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật. Phong trào thơ mới được coi là “một cuộc cách mạng” trong thơ ca, những quy tắc gò bó, lối diễn đạt ước lệ, công thức bị phá bỏ, cảm xúc được diễn tả tự nhiên, cởi mở hơn, lãng mạn hơn. Trong phong trào thơ mới xuất hiện nhiều nhà thơ tài năng Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Xuân Diệu, Huy Cận, Tản Đà, w. Về Văn học lãng mạn nổi lên có nhóm Tự lực văn đoàn được thành lập năm 1932 gồm Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam và một số nhà văn trẻ, w. Dòng văn học này tuy có nhiều tiến bộ trong sáng tác nhưng không tránh khỏi những hạn chế về mặt tư tưởng. Bên cạnh trào lưu văn học lãng mạn phải kể đến dòng Văn học hiện thực phê phán. Các sáng tác của trào lưu văn học này có tính chân thực cao và thăm đượm tinh thần nhẫn dạo. Trào lưu này đã cho ra dời những tác phẩrn thật sự xuất sắc cả về nội dung và hình thức như Bước dường cùng của Nguyễn Công Hoan, Tắt đèn của Ngô Tẩt Tố, Vỡ đê, Giông tố của Vũ Trọng Phụng, Bi vò của Nguyễn Hồng, Chí Phèo của Nam Cao, w. Cùng với hai trào lưu trên còn có trào lưu Văn học cách mạng nhưng không được lưu hành hợp pháp tuy có lúc được lưu hành hợp pháp. Trào lưu văn học này gồm những thơ văn của các chiến sĩ cách mạng ở trong tù và những tác phẩm được xuất bản trên báo chí nước ngoài. Những tác giả tiêu biểu cho trào lưu này là Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu, Xuân Thuỷ, vv. Cuộc cách mạng tháng Tám thành công, nền Văn học hiện đại được phát triển mạnh mẽ. Những tác phẩm ra đời trong thời kì này như những mốc son đánh dấu từng giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Các tác phẩm Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Vùng mỏ của Võ Huy Tầm, Xung Kích của Nguyễn Đình Thi, Tuỳ bút của Nguyễn Tuân, w. là thành quả của nền văn học trong những năm kháng chiến chống Pháp. Cuộc kháng chiến chống Mĩ kéo dài 21 năm, nhiều tác phấm văn học nổi tiếng đã ra đời, phản ánh cuộc đấu tranh vô cùng anh dũng của đồng bào và chiến sĩ cả nước như Hòn đất của Anh Đức, Gia đình má Bẩy, Mẫn và tôi của Phan Tứ, Trên đất Quảng, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi. Và các tác phẩm thơ Quê hương của Giang Nam, Dáng dứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, Bài ca Chim Chơ-rao của Thu Bồn, Gió Lào cát trắng của Xuân Quỳnh, w. Hiện nay các nhà văn, nhà thơ đang có gắng đưa văn học Việt Nam sang một giai đoạn mới, góp phần xây dựng một nước Việt Nam đi lên trong hoà bình và ổn định. Nguồn
văn học chữ hán và chữ nôm