văn xuôi lớp 12

Lớp 12 Lớp 11 Lớp 10 Lớp 9 Lớp 8 Lớp 7 Lớp 6 Lớp 5 Giải chuyên đề ngữ văn 10 chân trời sáng tạo phần 2 Viết bài giới thiệu một tập thơ, một tập truyện ngắn hoặc một cuốn tiểu thuyết ; Bài 7: Hoa phượng trang 140 SGK Tiếng Việt lớp 1 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống. Tranh vẽ hoa gì. Em biết gì về loài hoa này. Đọc. Tìm tiếng cùng vần với mỗi tiếng xanh, lửa, cây. Những câu thơ nào cho biết hoa phượng nở rất nhiều. Trong bài thơ, cây phượng được Giáo án Ngữ văn 12 tiết 5: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt. Lượt xem: 2004 Lượt tải: 0. Giáo án Ngữ văn lớp 12 tuần 27. Lượt xem: 837 Lượt tải: 1. Bài giảng Ngữ văn: Vợ nhăt - Kim Lân. Lượt xem: 1059 Lượt tải: 0. Giáo án môn Ngữ văn lớp 12 - THPT Số 2 Lào cai 1630. 5 chuyên đề ôn tập Ngữ Văn 12 gồm các chuyên đề: rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản; rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận xã hội; một số dạng đề nghị luận văn học; văn xuôi việt nam giai đoạn 1945-1975; văn học việt nam sau 1975 được soạn dưới dạng file word Ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn: Tóm tắt các tác phẩm văn xuôi 1. Tóm tắt Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh 2. Tóm tắt Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc của Phạm Văn Đồng 3. Tóm tắt Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 1-12-2003 (Cô-phi-annan) 4. Tóm tắt Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) 5. Trang chủ Ngữ văn 12 HỌC TỐT (Theo Chương trình hiện hành) HỌC TỐT là chương trình học tập trung vào việc xây dựng kiến thức nền tảng, giúp học sinh nắm chắc lý thuyết và biết cách vận dụng lý thuyết vào làm bài tập, rèn luyện thành thạo các dạng bài bám sát theo chương trình sách giáo khoa hiện hành. Evay Vay Tiền. Hệ thống kiến thức văn xuôi lớp 12 là tài liệu cực kì hữu ích, gồm 32 trang tổng hợp toàn bộ kiến thức môn Ngữ văn lớp 12 sẽ là tài liệu tham khảo hay dành cho quý thầy cô cùng các bạn học sinh để ôn thi THPT quốc gia môn Ngữ Văn. Ngoài ra các bạn tham khảo thêm nhiều tài liệu văn hay khác như Sơ đồ tư duy môn Ngữ văn ôn thi THPT Quốc gia, Kỹ năng làm phần đọc hiểu môn Ngữ Văn đạt điểm tối đa. Mời các bạn tham khảoBạn đang xem Hệ thống kiến thức văn xuôi lớp 12 Tổng hợp kiến thức văn xuôi thi THPT Quốc gia A. Vợ nhặt – Kim Lân 1. Kim Lân – Kim Lân 1920 – 2007, là cây bút chuyên viết truyện ngắn. – Những sáng tác của Kim Lân thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê. Dù viết về phong tục hay con người, trong tác phẩm của Kim Lân ta vẫn thấy thấp thoáng cuộc sống và con người làng quê Việt Nam nghèo khổ nhưng tâm hồn trong sáng, lạc quan, thật thà. Tác phẩm chính Nên vợ nên chồng 1955, Con chó xấu xí 1962… 2. Truyện ngắn Vợ nhặt Hoàn cảnh sáng tác Vợ nhặt in trong tập Con chó xấu xí 1962, được viết dựa trên một phần tiểu thuyết Xóm ngụ cư. Nội dung – Tình cảm thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra. Nghệ thuật – Xây dựng được tình huống truyện độc đáo Tràng nghèo, xấu, lại là dân ngụ cư, giữa lúc đói khát nhất, khi cái chết đang cận kề lại “nhặt” được vợ, có vợ theo. Tình huống éo le này là đầu mối cho sự phát triển của truyện, tác động đến tâm trạng, hành động của các nhân vật và thể hiện chủ đề của truyện. – Cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn ; dựng cảnh sinh động, có nhiều chi tiết đặc sắc. Nhân vật được khắc hoạ sinh động, đối thoại hấp dẫn, ấn tượng, thể hiện tâm lí tinh tế. – Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị nhưng chắt lọc và giàu sức gợi. Ý nghĩa văn bản Tố cáo tội ác của bọn thực dân, phát xít đã gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945 và khẳng định ngay trên bờ vực của cái chết, con người vẫn hướng về sự sống, tin tưởng ở tương lai, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. 3. Đọc thêm 1 Tóm tắt tác phẩm Tràng ở xóm ngụ cư, làm nghề kéo xe bò chở thuê. Anh đã nhiều tuổi, thô kệch, có tính vừa đi vừa nói lảm nhảm như kẻ dở hơi. Bà cụ Tứ là mẹ Tràng. Hai mẹ con ở trong một mái nhà tranh vắng teo, rúm ró. Trận đói kinh khủng đang diễn ra, người chết đói như ngả rạ. Một lần kéo xe thóc Liên đoàn lên tỉnh, hắn hò một câu vượt dốc rất tình. Một cô gái ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng, liếc mắt cười tít. Lần thứ hai, Tràng gặp lại thị, trông khác hẳn, thị gầy sọp hẳn đi, áo quần tả tơi như tổ đỉa. Một vài câu trách móc, mời chào, thị ăn một chập 4 bát bánh đúc do Tràng đãi. Mua một cái thúng và 2 hào dầu, Tràng dẫn thị về nhà ra mắt mẹ. Xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy một người đàn bà xa lạ đi theo Tràng họ bàn tán, có phần lo ngại. Trong nhá nhem tối, bà cụ Tứ gặp và nói chuyện với nàng dâu mới. Lần đầu nhà Tràng có dầu thắp đèn… Tiếng ai hờ khóc người chết đói ngoài xóm lọt vào. Sáng hôm sau, bà mẹ chồng và nàng dâu mới quét dọn trong nhà ngoài sân. Bữa cơm – cháo cám – đón nàng dâu mới. Bà cụ Tứ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu, nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng sau này…Tiếng trống thúc thuế dồn dập. Quạ đen bay vù như mây đen. Thị nói về chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật. Tràng nhớ lại lá cờ đỏ bay phấp phới hôm nào… 2 Gợi ý phân tích a Tình huống truyện Tràng nhặt được vợ giữa nạn đói khủng khiếp năm 1945 làm cho – Người dân xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy Tràng đi cùng một người đàn bà lạ về nhà có vợ theo không. Vì Người như Tràng mà lấy được vợ một anh chàng nghèo xấu trai, lại là dân ngụ cư; Thời buổi đói khát này, người như Tràng đến nuôi thân còn chưa xong mà còn dám lấy vợ. Nhưng khốn nỗi nếu không gặp cảnh đói khát khủng khiếp như thế này thì ai mà thèm lấy Tràng. Đau xót ở chỗ đây là “vợ nhặt” không ăn hỏi, cheo cưới gì đâu. Đói khát như thế, mọi việc đều có thể bỏ qua, nên Tràng mới lấy được vợ. – Niềm khát khao hạnh phúc gia đình, niềm tin bất diệt vào cuộc sống và tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau giữa những con người lao động nghèo khổ ngay trên bờ vực của cái chết. – Bà cụ Tứ ngạc nhiên – Ngay cả Tràng cũng ngạc nhiên. Kim Lân đã sáng tạo một tình huống truyện độc đáo. Tình huống được gợi ra ngay từ nhan đề của tác phẩm vợ nhặt. Tình huống truyện vừa lạ vừa hết sức éo le nói trên là đầu mối cho sự phát triển của truyện, tác động đến diễn biến tâm trạng và hành động của các nhân vật. Qua tình huống này, chủ đề của truyện được bộc lộ. c Các nhân vật – Người vợ nhặt. Cái đói quay quắt đã ném thị vào đời sống vất vưởng. Đời sống vất vưởng đã biến thị thành một phụ nữ có ngoại hình tàn tạ. Thị đã theo không về làm vợ Tràng. Con người thật của thị thể hiện rõ khi về nhà. Người vợ nhặt vô danh nhưng không vô nghĩa, bóng dáng của thị không lộng lẫy nhưng gợi được sự ấm áp cho một gia đình đang bên lề cái chết. – Nhân vật Tràng. Người lao động nghèo, tốt bụng,… luôn khao khát hạnh phúc và có ý thức xây dựng hạnh sáng đầu tiên khi có vợ, anh nhận thấy không gian xung quanh thay đổi. Tràng thay đổi suy nghĩ, ý thức được trách nhiệm với vợ con, anh dự cảm một tương lai tươi đẹp cho cuộc đời của mình “Bỗng nhiên hắn thấy…tu sửa căn nhà”. Những thay đổi lớn trong tâm lí, tính cách của anh Tràng là biểu hiện cao nhất của tinh thần hướng về sự sống quên đi cái chết đang bủa vây. – Nhân vật bà cụ Tứ. Bà cụ Tứ một bà mẹ nghèo nhưng giàu lòng nhân ái; đói khát đã khiến người ta phải sống, phải ăn thức ăn của loài vật cháo cám nhưng cái đói không hủy diệt được tình nghĩa và niềm hi vọng của con người. Tư tưởng dù ở bên lề cái đói, cái chết, người ta vẫn khao khát hạnh phúc… vẫn hi vọng ở tương lai”` B. Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài 1. Tô Hoài – Tô Hoài 1920 quê Hà Nội, là một trong những nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Ông có vốn hiểu biết phong phú sâu sắc về phong tục, tập quán nhiều vùng khác nhau của đất nước. – Văn Tô Hoài có lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trãi, vốn từ vựng phong phú. Năm 1996 được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Tác phẩm chính Dế Mèn phiêu lưu kí truyện, 1941; Truyện Tây Bắc tập truyện, 1953; Miền Tây tiểu thuyết, 1967 2. Vợ chồng A Phủ Hoàn cảnh ra đời Vợ chồng A Phủ 1952 in trong tập truyện Tây Bắc, là kết quả chuyến đi thực tế của Tô Hoài cùng bộ đội giải phóng Tây Bắc Nội dung Cuộc sống cơ cực, tối tăm của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao dưới ách áp bức kìm kẹp của thực dân và chúa đất thống trị; quá trình người dân các dân tộc thiểu số thức tỉnh cách mạng và vùng lên tự giải phóng đời mình, đi theo tiếng gọi của Đảng. Nghệ thuật – Không khí, màu sắc đậm chất Tây Nguyên thể hiện ở bức tranh thiên nhiên; ở ngôn ngữ, tâm lí, hành động của các nhân vật. – Xây dựng thành công các nhân vật vừa có những nét cá tính sống động vừa mang những phẩm chất có tính khái quát, tiêu biểu cụ Mết, Tnú, Dít,…. – Khắc hoạ thành công hình tượng cây xà nu – một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc – tạo nên màu sắc sử thi và sự lãng mạn bay bổng cho thiên truyện. – Lời văn giàu tính tạo hình, giàu nhạc điệu, khi thâm trầm, khi tha thiết, trang nghiêm,… Ý nghĩa văn bản Ngợi ca tinh thần bất khuất, sức mạnh quật khởi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói riêng, đất nước, con người Việt Nam nói chung trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và khẳng định chân lí của thời đại để giữ gìn sự sống của đất nước và nhân dân, không có cách nào khác là phải cùng nhau đứng lên cầm vũ khí chống lại kẻ thù. 3. Đọc thêm * Tóm tắt tác phẩm Ngày xưa, bố Mị lấy mẹ Mị, không đủ tiền cưới phải đến vay nhà thống lí, bố của thống lí Pá Tra bây giờ. Mẹ Mị đã chết, bố Mị đã già mà món nợ mỗi năm phải trả lãi một nương ngô vẫn còn. Năm đó, ở Hồng Ngài tết đến, A Sử con trai thống lí Pá Tra lừa bắt cóc được Mị về làm vợ cúng trình ma. Mị trở thành con dâu gạt nợ. Khổ hơn con trâu con ngựa, lùi lũi như con rùa trong xó cửa. Mị toan ăn lá ngón tự tử. Thương cha già, Mị chết không đành. Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Một cái tết nữa lại đến. Mị thấy lòng phơi phới. Cô uống rượu ực từng bát, rồi chuẩn bị lấy váy áo đi chơi. A Sử đã trói đứng Mị bằng một thúng sợi đay. A Phủ vì tội đánh con quan nên bị làng phạt vạ một trăm bạc trắng A Phủ trở thành người ở nợ cho Pá Tra. Một năm rừng động, A Phủ để hổ bắt mất một con bò. Pá Tra đã trói đứng anh vào một cái cọc bằng một cuộn mây. Mấy ngày đêm trôi qua, A Phủ sắp chết đau, chết đói, chết rét thì được Mị cắt dây trói cứu thoát. Hai người trốn đến Piềng Sa nên vợ nên chồng. A Phủ gặp cán bộ A Châu kết nghĩa làm anh em được giác ngộ trở thành chiến sĩ du kích đánh Pháp. C. Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành 1. Nguyễn Trung Thành Nguyễn Trung Thành Nguyên Ngọc, trong hai cuộc kháng chiến gắn bó mật thiết với mảnh đất Tây Nguyên. Những tác phẩm thành công của ông gắn với mảnh đất ấy. 2. Rừng xà nu Hoàn cảnh sáng tác – Đầu năm 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền Bắc. Nguyễn Trung Thành và các nhà văn miền Nam lúc đó muốn viết “hịch thời đánh Mĩ”. Rừng xà nu được viết vào đúng thời điểm mà cả nước ta trong không khí sục sôi đánh Mĩ. Tác phẩm được hoàn thành ở khu căn cứ của chiến trường miền Trung Trung bộ. – Truyện “Rừng xà nu” được Nguyễn Trung Thành viết năm 1965, xuất hiện lần đầu trên Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng miền trung Trung Bộ, số 2 năm 1965 – năm 1969, in trong tập truyện ký “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”. Nội dung – Truyện ngắn Rừng xà nu trước hết phản ánh hiện thực đau thương nhưng kiên cường, bất khuất của người dân Tây Nguyên thông qua hình tượng cây xà nu. – Qua câu chuyện bi thương của của nhân vật Tnú và cuộc nổ dậy của dân làng Xô Man, nhà văn khẳng định dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng đấu tranh vũ trang là con đường tất yếu để tự giải phóng. Nghệ thuật – Sắc màu Tây Nguyên được thể hiện ở bức tranh thiên nhiên; ngôn ngữ, tâm lí, hành động của các nhân vật. – Khắc hoạ thành công hình tượng cây xà nu – một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc tạo nên màu sắc sử thi và cảm hứng lãng mạn bay bổng cho thiên truyện; lời văn giàu tInh tạo hình, giàu nhạc điệu. – Xây dựng thành công các nhân vật vừa có nét cá tính sống động vừa mang những phẩm chất khái quát, tiêu biểu cho cộng đồng. Ý nghĩa văn bản Ca ngợi tinh thần bất khuất, sức mạnh quật khởi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói riêng, đất nước, con người Việt Nam nói chung trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và khẳng định chân lí của thời đại để giữ gìn sự sống của đất nước và nhân dân, không có cách nào khác là phải cùng nhau đứng lên cầm vũ khí chống lại kẻ thù. 3. Đọc thêm 1 Tóm tắt Sau 3 năm đi “lực lượng”, Tnú về thăm làng. Bé Heng gặp anh ở con nước lớn dẫn anh về. Cụ Mết già làng và bà con dân làng reo lên mừng rỡ. Cụ Mết đưa anh về nhà ăn cơm. Cả làng cầm đuốc kéo tới nhà cụ Mết gặp Tnú. Có cả cô Dít, em gái Mai, nay là bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội. Dít thay mặt làng xem giấy có chữ ký chỉ huy cho phép Tnú về thăm làng một đêm. Rồi cụ Mết kể lại cuộc đời Tnú cho lũ làng nghe. Tiếng nói rất trầm. … Anh Xút bị giặc treo cổ, bà Nhan bị giặc chặt đầu, Tnú và Mai đi vào rừng nuôi anh Quyết cán bộ. Tnú học chữ thì hay quên nhưng đi rừng làm liên lạc thì đầu nó sáng lạ lùng. Một lần Tnú vượt thác Đắc nông thì bị giặc bắt, bị tra tấn, bị đầy đi Kông Tum. Ba năm sau, Tnú vượt ngục trốn về, lưng đầy thương tích. Tnú đọc thư tuyệt mệnh của anh Quyết gửi cho dân làng Xô Man trước khi anh tử thương. Đêm đêm làng Xô Man thức mài vũ khí. Thằng Dục chỉ huy đồn Đắc Hà đưa lũ ác ôn về vây ráp làng. Cụ Mết và trai tráng lánh vào rừng, bí mật bám theo giặc. Bọn giặc đã giết chết mẹ con Mai. Tay không ra cứu vợ con, Tnú bị giặc bắt. Chúng lấy nhựa xà nu đốt cháy 10 ngón tay anh. Cụ Mết và lũ thanh niên từ rừng xông ra, dùng mác, và rựa chém chết tất cả 10 tên ác ôn. Và lửa cháy khắp rừng… Sau đó, Tnú ra đi tìm cách mạng… Cụ Mết ngừng kể, rồi hỏi Tnú đã giết được mấy thằng Diệm, mấy thằng Mĩ rồi? Anh kể chuyện đánh đồn, xông xuống hầm ngầm dùng tay bóp chết thằng chỉ huy… Mưa rơi nặng hạt. Không ai nhận thấy đêm đã khuya. Sáng hôm sau cụ Mết và Dít tiễn Tnú lên đường. Ba người đứng nhìn những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời… 2 Gợi ý phân tích hình tượng cây xà nu và hình tượng nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu a Hình tượng cây xà nu Vị trí xuất hiện nhan đề, đầu và cuối tác phẩm, xuất hiện trong sự đối chiếu, so sánh với các nhân vật khác trong truyện. Nghĩa thực Đây là một loại cây có thật ở vùng đất Tây Nguyên. Nghĩa biểu tượng Cây xà nu tượng trưng cho số phận và phẩm chất của con người Tây Nguyên trong chiến tranh. b Hình tượng nhân vật Tnú Gan góc, dũng cảm, mưu trí Tính kỉ luật cao, tuyệt đối trung thành với cách mạng Có trái tim yêu thương và sôi sục căm thù giặc. Cuộc đời bi tráng của Tnú và con đường đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên, góp phần làm sáng tỏ chân lí thời đại Phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt bạo lực phản cách mạng, đấu tranh vũ trang là con đường tất yếu để giải phóng Chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo… c Hình tượng cây xà nu và Tnú có quan hệ khắng khít, bổ sung cho nhau. Rừng xà nu chỉ giữ được màu xanh bất diệt khi có những con người biết hi sinh như Tnú. D. Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi 1. Nguyễn Thi Là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam trong thời kì chống Mĩ. Sinh ra ở miền Bắc nhưng gắn bó máu thịt với mảnh đất miền Nam và được mệnh danh là nhà văn của người nông dân Nam Bộ. Có biệt tài phân tích tâm lí sắc sảo. 2. Những đứa con trong gia đình Hoàn cảnh sáng tác Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình được hoàn thành vào tháng 2 năm 1966, trong những ngày chiến đấu chống Mĩ ác liệt, khi nhà văn công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng. Nội dung – Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình phản ánh hiện thực đau thương nhưng rất đỗi anh dũng, kiên cường của nhân dân miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước. – Vẻ đẹp tâm hồn của người dân Nam Bộ lòng yêu nước, căm thù giặc, tình cảm gia đình là sức mạnh tinh thần to lớn trong cuộc chiến chống Mĩ cứu nước. Nghệ thuật – Tình huống truyện Việt – một chiến sĩ Quân giải phóng – bị thương phải nằm lại chiến trường. Truyện kể theo dòng nội tâm của Việt khi liền mạch lúc tỉnh, khi gián đoạn lúc ngất của “người trong cuộc” làm câu chuyện trở nên chân thật hơn; có thể thay đổi đối tượng, không gian, thời gian, đan xen tự sự và trữ tình. – Chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể vừa giàu ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh. Ngôn ngữ bình dị, phong phú, giàu giá trị tạo hình và đậm sắc thái Nam Bộ. – Giọng văn chân thật, tự nhiên, nhiều đoạn gây xúc động mạnh Ý nghĩa văn bản Qua câu chuyện về những con người trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc, thuỷ chung với quê hương, với cách mạng, nhà văn khẳng định sự hoà quyện giữa tình cảm gia đình và tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. 3. Đọc thêm Tóm tắt tác phẩm Việt quê ở Bến Tre. Chị gái là Chiến, hai chị em cùng đi bộ đội một ngày. Trong một trận đánh lớn trong rừng cao su, Việt dùng thủ pháo diệt một xe bọc thép Mĩ. Nhưng Việt đã bị thương nặng, ngất đi trên chiến trường, bị lạc đơn vị ba ngày đêm. Tỉnh rồi lại mê, mê rồi lại tỉnh, anh nhớ lại những kỷ niệm vui, buồn tuổi thơ, nhớ lại ba má, anh chị em, nhớ chú Năm. Cả ba lẫn má đều hy sinh trong chiến tranh. Việt và chị Chiến ra đi đánh giặc để báo thù cho ba má, để giải phóng quê hương, tiếp tục trang sử anh hùng của gia đình. Anh Tánh dẫn tiểu đội đi tìm Việt suốt 3 ngày, mấy lần đụng địch, lục tìm suốt mặt trận dài mới gặp được Việt và đưa về bệnh viện quân y. Lúc vết thương sắp lành, anh Tánh giục Việt viết thư cho chị Chiến. …….. Mời các bạn tải file tài liệu để xem thêm nội dung chi tiết Đăng bởi THPT Nguyễn Đình Chiểu Chuyên mục Tài Liệu Lớp 12 Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Ngữ văn lớp 12 - Ôn tập văn xuôi Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênNội dung text Bài giảng Ngữ văn lớp 12 - Ôn tập văn xuôi Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975▪Văn xuôi là thể loại văn nói hoặc viết bằng ngôn ngữ thông thường,không tuân theo các lề luật thi xuôi chủ yếu dựa vào năng lực trí tuệ cộng với tình cảm và trí tưởng tượng ▪Văn xuôi có nhiều thể loạivăn diễn giảng,văn lịch sử,văn nghị luận,văn tự sự .Văn xuôi văn học có tiểu thuyết,truyện ngắn,tùy bút, ra,khi những tác phẩm triết học lịch sử,giáo dục, có chứa các giá trị thẩm mỹ thì cũng được xem là văn xuôi Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975 là giai đoạn có nhiều sự kiện lịch sử trọng đại có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của văn xuôi cũng như văn học nói chungCách mạng tháng Tám thành công,một chế độ xã hội mới ra đời ; tiếp theo là những năm kháng chiến trường kì, anh dũng của dân tộc Văn học cũng như văn xuôi đã gắn chặt mình với sự nghiệp vĩ đại đó của dân xuôi trong giai đoạn này đã có những thành tựu rực rỡ. văn xuôi giai đoạn này đó là vừa nâng cao khả năng bao quát hiện thực, vừa chú ý đào sâu những vấn đề nằm trong hiện thực đó, vừa miêu tả, vừa phân tích và lí giải cho nên tác phẩm có được sức khái quát chính xác và sâu sắc hơn. Trong quá trình khám phá, sáng tạo, các nhà văn đã chú ý khai thác và thể hiện những khía cạnh độc đáo của cuộc sống vừa sản xuất, vừa chiến đấu, sự gắn bó giữa tiền tuyến và hậu phương cũng như các mối quan hệ trong đời sống gia đình, xã hội, sự kế tiếp của hai thế hệ trong cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộcII. Qúa trình phát triển và những thành tựu chủ yếu Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 chia thành ba chặng đường nhỏ 1. Chặng đường từ năm 1945 đến năm 1954 1945-1946 ây là năm bản lề, văn học chuyển mình hòa vào dòng thác Cách mạng. Văn học Cách mạng dần trở thành trào lưu chủ đạo ❖Chủ đề bao trùm sáng tác văn học trong những ngày đầu đất nước giành được độc lập là ca ngợi Tổ quốc và quần chúng cách mạng ,kêu gọi tinh thần đoàn kết toàn dân, ▪ Truyện ký tập trung vào ba chủ đề bầu không khí mới của xã hội các tuỳ bút của Nguyễn Tuân, cuộc đổi đời của dân tộc; nhận diện cuộc sống những khốn cùng của con người trong chế độ cũ – Mò sâm banh của Nam Cao, Vợ nhặt của Kim Lân và con người hình ảnh những con người mới của chế độ mới – Một lần tới thủ đô của Trần Đăng. ▪Từ cuối năm 1946 đến năm 1954 văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ký Trận phố Ràng và Một cuộc chuẩn bị là những trang ký bình dị, tự nhiên, thô ráp và mạnh mẽ. Nguyễn Huy Tưởng với Ký sự Cao Lạng đã tái hiện diễn biến chiến dịch Biên giới thu đông 1950. Tác phẩm đã bao quát cả chiều rộng không gian chiến dịch và các sự kiện khá chi tiết, kết hợp bút pháp kể và miêu tả làm cho tác phẩm đậm màu sử thi, cảm hứng lịch sử. Nguyễn Tuân tài hoa và phóng túng trong các tùy bút Đường vui, Tình chiến dịch, Tùy bút kháng chiến- Hình tượng con người mới trong văn xuôi 1945-1954 có những đặc điểm khá nổi bật. Lần đầu tiên trong văn học, lớp lớp con người bình thường, chân chất xuất thân từ nhiều tầng lớp khác nhau trí thức, nông dân, công nhân được xây dựng thành nhân vật trung tâm. Họ tượng trưng cho sự quật khởi đầy ý thức của giai cấp và tiêu biểu cho sức mạnh, vẻ đẹp của dân tộc, thời đại. Thông qua hình tượng đám đông, văn học làm rõ những nét tính cách, tâm lý chung rất dân tộc và cách mạng thủy chung tình nghĩa không chỉ với gia đình, người thân, làng xóm mà cả với đất nước, quê hương ; không chỉ yêu nước, căm thù giặc trên cơ sở tình dân tộc, nghĩa đồng bào mà còn mở rộng đến ý thức vô sản ở tầm quốc tế. - Mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh đã khác trước. Con người không còn là nạn nhân đáng thương hoặc phản kháng tự phát trước hoàn cảnh mà đã xuất hiện trong tư thế chủ nhân chân chính, giác ngộ ngày càng sâu sắc, tự giải phóng mình và góp phần giải phóng dân tộc, giai cấp Xung kích, Vùng mỏ, Con trâu, Truyện Tây Bắc.Tuỳ bút Nhận đường của Nguyễn Đình Thi 1. Cuộc lột xác đầy đau đớn nhưng cũng là cuộc phục sinh của văn nghệ sĩ 2. Chức năng của nền văn nghệ mới sức mạnh của văn nghệ kháng chiến, văn nghệ, sáng được lên nhưng vui buồn yêu ghét mạnh mẽ của kháng chiến, sẽ châm sáng nhưng niềm vui buồn yêu ghét trong lòng chúng ta, văn nghệ chiếu rọi được hướng đi tới của từng sự việc nhở trong cuộc sống kháng chiến hàng ngày sẽ chiếu rọi được vào ý thức mỗi người mỗi người một luồng ánh sáng làm cho nhận rõ con đường vượt qua những khó khăn trước mắt, người cầm bút là kỹ sư của tâm hồn. "Đem ý thức kháng chiến vào cuộc đời hàng ngày, châm lên trong lòng người những tình cảm kháng chiến mãnh liệt, làm cho mới người gắn liền với kháng chiến bằng những phần sâu xa nhất của đời sống mình, sức mạnh và nhiệm vụ của văn nghệ là ở đấy". 3. Công thức của nhận đường sống được cuộc sống kháng chiến của dân tộc, hiểu được hướng đi tới của xã hội ta hiện thời, cảm xúc được những cảm xúc mới của kháng chiến, tất cả vấn đề sáng tác quyết định ở điểm ấy. người văn nghệ phải biết rõ đứng về phía sự sống nào và phải làm sao sự sống ấy biến thành máu thịt của Sám hối – những yếu ớt bạc nhược của nền văn nghệ cũ chủ nghĩa cá nhân, sướt mướt buồn thảm, truỵ lạc, bạc nhược đầu hàng 5. Nhân vật thời đại của nền văn nghệ mới – con nguời mới của dân tộc, người anh hừng thời đại chính là những con người bình thường và lớn lao như vậy. 6. Nền văn nghệ của đời sống kháng chiến – đời sống hồi sinh, sức sống mới "chúng ta đòi một văn nghệ mang được sự sống của những con người mới ấy chúng ta muốn giở những trang sách cháy bỏng đầu ngón tay" – trách nhiệm của người cầm bút trong xã hội mới. 7. Niềm tin vào cuộc lột xác tất yếu của nền văn học dân tộcCác tác phẩm tiêu biểu trong chặng đường này làMột lần đến với thủ đô,Trận phố RàngTrần Đăng;Đôi mắt,Ở rừngNam Cao;LàngKim Lân;Thư nhàHồ Phương ;tập truyện kí Vùng mỏVõ Huy Tâm,Xung kíchNguyễn Đình Thi,Đất nước đứng lênNguyên Ngọc LàngKim Lân❑Văn xuôi mở rộng đề tài,bao quát được khá nhiều vấn đề và phạm vi của hiện thực đời sống. Nhiều tác phẩm viết sự đổi đời của con người,miêu tả sự biến đổi số phận và tính cách nhân vật trong môi trường xã hội mới. Không ít tác phẩm đi theo hướng này đã thể hiện được khát vọng hạnh phúc của con người,có ý nghĩa nhân văn khá sâu sắc như Đi bước nữa của Nguyễn Thế Phương, Mùa lạc của Nguyễn Khải, Anh Keng của Nguyễn Kiên, ❑Một số tác phẩm tập trung khai thác đề tài kháng chiến chống PhápSống mãi với thủ đôNguyễn Huy Tưởng;Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai; ❑Ngoài ra có những tiểu thuyết,truyện ngăn viết về hiện thực đời sống trước Cách mạng với cái nhìn,khả năng phân tích và sức khái quát mớiVợ nhặtKim Lân,Tranh tối tranh sángNguyễn Công Hoan, Và thể hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã thu hút sư quan tâm chú ý của nhiều cây bút nhưSông ĐàNguyễn Tuân,Mùa LạcNguyễn Khải,Tô Hoài3. Chặng đường từ năm 1965 đến năm 1975 ❖ Văn xuôi ở chặng đường này phản ánh cuộc sống đấu tranh và lao động voi hình ảnh con người Việt Nam anh dũng,kiên cường ,bất khuất nhưNgười mẹ cầm súngNguyễn Thi,Rừng xà nuNguyễn Trung Thành,Chiếc lược ngàNguyễn Quang Sáng, đã tạo nên sự hấp dẫn người đọc trong những năm chống Mỹ. => Trước sự hủy diệt tàn bạo của kẻ thù, tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân ta càng kiên cường và bất khuất “Họ đã xuống đường và đem cả lương tâm và nhân phẩm bắn tỏa lên bầu trời đầy giặc giã” Chu Lai ❖Ở miền Bắc,truyện,kí cũng phát triển biểu là kí chống Mĩ của Nguyễn Tuân;truyện ngắn của Nguyễn Thành Long,Nguyễn Kiên,Vũ Thị Thường,Đỗ Chu;tiểu thuyết Vùng trờiba tập của Hữu Mai,Cửa sông và Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu Người mẹ cầm súng Nguyễn đặc điểm cơ bản của văn xuôi Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 a,Văn xuôi chủ yếu vận động theo khuynh hướng Cách mạng hóa,sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước. -Văn xuôi vận động theo khuynh hướng Cách mạng hóa +Khuynh hướng tư tưởng chủ đạolí tưởng Cách mạng. +Nội dung phản ánh hiện thực Cách mạng và kháng chiến -Gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của dân tộc + Văn xuôi đã thể hiện được nhiệm vụ quan trọng của đất nước trong từng chặng đường lịch sử Đấu tranh chống Pháp,đế quốc Mĩ để giải phóng quê hương thống nhất 2 miền Nam-Bắc Xây dựng CNXH ở miền Bắcb,Văn xuôi hướng về đại chúng -Văn xuôi từ 1945-1975 đã coi đại chúng vừa là đối tượng phản ánh đối tượng phục vụ,vừa là nguồn cung cấp bổ sung lực lượng sáng tác. -Nội dung phản ánh của các tác phẩm hướng vào phản ánh đời sống của tầng lớp nhân dânngười nông dân,người mẹ, -Hình thứclời văn giản dị,trong sáng ,nội dung dễ hiểu. c,Văn xuôi chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn -Khuynh hướng sử thi +,Đề tàinhững vấn đề cơ bản có ý nghĩa sống còn của dân tộc. +,Nhân vật chínhtiêu biểu cho lí tưởng chung của dân tộc,gắn bó số phận mình với số phận của đất nước,thể hiện kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cộng đồnganh hùng Núp,Tnú,chị Út Tịch, +,Giọng điệuca ngợi,trang trọng,hào hùng. -Cảm hứng lãng mạnkhẳng định phương diện lí tưởng của cuộc sống mới và con người mới,ca ngợi chủ nghĩa anh hùng Cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân ảnh trong tp “người lái đò sông Đà”IV. Tổng kết - Văn xuôi từ năm 1945-năm 1975 đã kế thừa và phát huy mạnh mẽ những truyền thống tư tưởng lớnchủ nghĩa nhân đạo,đặc biệt là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng. - Về nội dung mở rộng phạm vi phản ánh đời sống và nâng cao khả năng khái quát hiện thực lịch sử , đồng thời tăng cường sự phân tích, lí giải những vấn đề, những xung đột cơ bản”Phát triển ra nội dung cộng đồng trong đời sống xã hội và phương tiện cộng đồng trong ý thức cá nhân”Lã Nguyên.Chưa bao giờ hình tượng Tổ Quốc ,hình tượng tập thể,hình tượng nhân dân lại chiếm ưu thế và hiện lên rực rỡ như thế trong văn học Việt Nam. Mục lụcTóm tắt tác phẩm văn xuôi lớp 121. Tóm tắt truyện Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài 2. Tóm tắt VỢ NHẶT 1955 – Kim Lân in trong tập Con có xấu xí, 19623. Tóm tắt RỪNG XÀ NU 1965- Nguyễn Trung Thành4. Tóm tắt truyện Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi 2/19665. TÓM TẮT CỐT TRUYỆN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA NGUYỄN MINH CHÂU TẮT CỐT TRUYỆN VỞ KỊCH HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT Lưu quang Vũ7. Tóm tắt phần trích giảng truyện ngắn Số phận con người của tắt cốt truyện truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn9. Tóm tắt truyện Ông già và biển cả của Hê-minh-uê Bạn học sinh nào chưa nhớ được cốt truyện của các tác phẩm văn xuôi lớp 12 thì tham khảo bài viết sau nhé. 1. Tóm tắt truyện Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài in trong tập Truyện Tây Bắc, 1953 Vợ chồng A phủ là câu chuyện kể về đôi vợ chồng người H Mông ở vùng Tây Bắc. Mỵ là một cô gái xinh đẹp có tài thổi sáo. Trai bản nhiều người mê và Mỵ đã có người yêu . Dù cha Mị nợ thống lí Pá Tra một món tiền lớn, chưa trả nổi, hằng năm phải trả lãi cả một nương ngô nhưng Mị kiên quyết không lấy A Sử -con trai thống lý Pá Tra-để cha được xoá nợ. Nhưng một đêm mùa xuân, Mị bị A Sử lừa, bắt về trình ma nhà nó. Tiếng gọi là làm vợ A Sử nhưng Mị bị đối xử thậm tệ. Ban đầu, Mị định tự tử nhưng vì thương cha đành cam chịu sống trong đau khổ câm lặng “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Mùa xuân lại về, Mị lén uống rượu một mình. Không khí vui nhộn ngày Tết, nhất là tiếng sáo gọi bạn tình đã giúp Mị nhớ lại những ngày trước, khơi dậy ở Mị khát vọng tình yêu hạnh phúc. Mị vào buồng và định thay váy áo đi chơi thì bị A Sử bắt trói đứng vào cột nhà , bằng cả thúng dây đay, cả tóc Mị. Trong cơn chập chờn mê tỉnh, Mị vẫn thả hồn theo các cuộc chơi. Đến lúc thích chí vùng bước đi mới biết toàn thân bị trói chặt , đau buốt. Cũng đêm đó, A phủ, một thanh niên mồ côi nhưng khoẻ mạnh, can trường, đã đánh A Sử, vì bất bình trước trò xấc xược của hắn ta. A Phủ bị làng bắt về xử và trở thành người ở trong nhà Pá Tra để trừ nợ. Một mùa đông giá rét, rừng đói, hổ báo từng đàn ra phá nương, bắt bò ngựa . A Phủ đi chăn bò ngựa vì mải mê bẫy nhím đã để hổ bắt mất một con bò. A Phủ bị thống lí Pá Tra bắt trói đứng vào một cây cột, suốt mấy ngày đêm- chờ khi nào A Sử bắn được hổ mới tha. Lúc ấy Mị đã trở thành một con người hoàn toàn vô cảm. Kiệt sức, tuyệt vọng, hai dòng nước mắt của A Phủ lặng lẽ rơi trên hai hóm má xám đen. Cảm thương người cùng cảnh ngộ, sau một hồi suy nghĩ, Mỵ đã cắt dây trói cho A Phủ. Sau đó, Mị vụt chạy theo A Phủ. Cả hai băng rừng, trốn sang Phiềng Sa, trở thành vợ chồng. Quân Pháp tràn tới, dân làng hoang mang lo sợ. A Châu, cán bộ Đảng đã tìm đến xây dựng phong trào và kết nghĩa anh em với A Phủ. A Phủ đã trở thành tiểu đội trưởng du kích, cùng với Mị và đồng đội tích cực tham gia chống Pháp và tay sai bảo vệ quê hương . 2. Tóm tắt VỢ NHẶT 1955 – Kim Lân in trong tập Con có xấu xí, 1962 Trong lúc xóm ngụ cư xơ xác, tiêu điều trong nạn đói, vào một buổi chiều tà, Tràng- một người nông dân nghèo, luống tuổi, thô kệch, lại dở hơi, ở xóm ngụ cư- dẫn về nhà một người phụ nữ – người vợ nhặt. Tràng gặp người vợ nhặt đang trong hoàn cảnh đói rách cùng đường. Với một câu nói đùa và mời ăn bốn bát bánh đúc, Tràng được người phụ nữ này ưng thuận theo anh về nhà . Mẹ Tràng bà cụ Tứ đón nhận người con dâu trong tâm trạng buồn vui, lo âu, hi vọng khó tách bạch nhưng không hề tỏ ra rẻ rúng người phụ nữ đã theo không con mình. Đêm tân hôn của họ diễn ra trong không khí chết chóc, tủi sầu từ xóm ngụ cư vọng tới Sáng hôm sau, một buổi sáng mùa hạ, nắng chói lói. Bà cụ Tứ và cô dâu mới xăm xắn dọn dẹp, quét tước trong ngoài. Trước cảnh ấy, Tràng cảm thấy mình gắn bó và có trách nhiệm với cái nhà của mình và thấy mình nên người. Trông người vợ đúng là một người phụ nữ hiền hậu đúng mực, không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như lần đầu gặp nhau. Cụ Tứ hồ hởi đãi hai con vài bát cháo loãng và một nồi chè cám. Qua lời kể của người vợ, Tràng hiểu được Việt Minh và trong óc Tràng hiện lên hình ảnh đám người đói kéo nhau đi phá kho thóc Nhật, phía trước là một lá cờ đỏ bay phất phới. 3. Tóm tắt RỪNG XÀ NU 1965- Nguyễn Trung Thành Sau ba năm tham gia lực lượng Giải phóng quân, Tnú trở về thăm làng. Làng Xô Man, ở Tây Nguyên, nằm giữa cánh rừng xà nu bạt ngàn, đang từng ngày hứng chịu những trận những trận đại bác của đồn giặc. Thằng bé Heng gặp ở con nước lớn, đã dẫn đường vì đường vào làng nay đã bố phòng nghiêm ngặt hầm chông, hố chông, dàn thò chằng chịt…. Đêm đó, Tnú ăn cơm và ở lại nhà cụ Mết. Cả làng tụ họp, Mai kiểm tra giấy phép xong, cụ Mết tự hào kể lại cho mọi người nghe trang sử đấu tranh của làng, trang sử đó gắn bó với cuộc đời Tnú. Hồi ấy Mỹ Diệm kéo tới làng lùng sục, khủng bố dữ dội, nhưng làng vẫn bí mật nuôi giấu cán bộ anh Quyết. Giặc giết anh Xút, bà Nhan, Tnú và Mai đàm nhiệm việc tiếp tế và giao liên cho anh Quyết, được anh Quyết dạy chữ. Một lần, trong chuyến đưa thư của anh Quyết lên huyện, Tnú bị địch phục bắt. Chúng thẳng tay tra tấn nhưng Tnú không khai và bị chúng bỏ tù. Sau ba năm. Anh vượt ngục, trở về làng thay anh Quyết lãnh đạo buôn làng tích cực chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Tin làng Xô Man chuẩn bị vũ khí chờ thời cơ nổi dậy đến tai giặc, khi đứa con Tnú chưa đầy tháng, thằng Dục đưa lính đến lùng sục vây ráp quyết bắt kỳ được Tnú. Cụ Mết, Tnú cùng thanh niên lánh vào rừng. Bất lực, bọn giặc bắt Mai cùng với đứa con nhỏ đánh đập dã man. Từ vị trí ẩn nấp, Tnú chứng kiến cảnh vợ con bị giặc hành hạ. Sôi sục căm thù, Tnú nhảy xổ vào bọn giặc và anh bị bắt. Mai và đứa con đã chết. Bọn giặc trói anh và tẩm nhựa Xà nu đốt mười đầu ngón tay anh trước mặt dân làng. Tnú kiên cường chịu đựng quyết không kêu la. Có tiếng động chung quanh, Tnú thét lên một tiếng, dân làng đồng thanh, nhất tề nổi dậy, thằng Dục và tiểu đội ác ôn đã bị giết trước lưỡi mác, lưỡi rựa, của cụ Mết và thanh niên. Làng Xô Man đã đồng khởi. Tnú gia nhập Giải phóng quân. Anh dũng cảm lập chiến công, được cấp chỉ huy cho về phép thăm làng một đêm. Sáng hôm sau, Cụ Mết, Dít tiến anh lên đường . Họ chia tay nhau ở đồi xà nu, cạnh con nước lớn. 4. Tóm tắt truyện Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi 2/1966 Câu chuyện kể về hai chị em Chiến – Việt, những đứa con trong một gia đình có nhiều mất mát, đau thương Cha bị Pháp chặt đầu hồi chín năm. Mẹ bị đại bác Mĩ bắn chết. Khi hai chị em Chiến – Việt trưởng thành, cả hai đều giành nhau tòng quân. Nhờ sự đồng tình của chú Năm, cả hai đều được nhập ngũ và ra trận. Trong trận đánh ác liệt tại một khu rừng cao su, Việt diệt được một xe bọc thép đầy Mĩ và sáu tên Mĩ lẻ nhưng anh cũng bị thương nặng, lạc đồng đội, một mình nằm lại chiến trường khi còn ngổn ngang dấu vết của đạn bom và chết chóc. Việt ngất đi, tỉnh lại nhiều lần. Mỗi lần tỉnh lại, Việt hồi tưởng về gia đình, về những người thân yêu như mẹ, Chú Năm, chị Chiến… . Đoạn trích thể hiện lần tỉnh dậy thứ tư của Việt trong đêm thứ hai. Tuy mắt không nhìn thấy gì, tay chân nhức buốt, tê cứng nhưng Việt vẫn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu và cố gắng từng tí một lê về phía có tiếng súng của quân ta vì phía đó “là sự sống”. Trong kí ức Việt vẫn còn nguyên những kỉ niệm từ sau ngày má mất. Cả hai chị em đều háo hức tòng quân, nhưng Chị Chiến nhất định giành đi trước vì Việt chưa đủ 18 tuổi. Đến đêm mít tin, Việt nhanh nhảu ghi tên mình trước. Chị Chiến chậm chân và “bật mí” chuyện Việt chưa đầy 18 tuổi. Nhờ chú Năm đứng ra xin giúp, Việt mới được tòng quân. Đêm hôm ấy, chị Chiến bàn bạc với Việt về mọi việc trong nhà. Việt răm rắp chấp nhận mọi sự sắp đặt của chị Chiến, vì Việt thấy chị Chiến nói giống má quá chừng. Sáng hôm sau , hai chị em khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm. Việt cảm thấy lòng mình “thương chị lạ”. Sau ba ngày đêm, đơn vị đã tìm thấy Việt. Anh được đưa về điều trị tại một bệnh viện dã chiến; sức khoẻ hồi phục dần. Anh Tánh giục Việt viết thư cho chị kể lại chiến công của mình. Việt rất nhớ chị, muốn viết thư nhưng không biết viết sao. Việt cũng không muốn kể chiến công của mình vì tự thấy nó chưa thấm gì so với thành tích của đơn vị và những mong ước của má. 5. TÓM TẮT CỐT TRUYỆN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA NGUYỄN MINH CHÂU Để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển thật ưng ý, trưởng phòng Nguyên đề nghị nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng phải tìm chụp bổ sung một cảnh biển buổi sáng có sương mù. Kết hợp đi thăm Đẩu-người bạn chiến đấu năm xưa giờ đang là chánh án toà án huyện- Phùng đi đến môt vùng biển miền Trung cách Hà Nội hơn 600 cây số. Đây từng là nơi anh đã chiến đấu thời đánh Mĩ. Phùng đã “phục kích mấy buổi sáng mà chưa chụp được bức ảnh nào. Sau gần một tuần suy nghĩ, tìm kiếm, anh quyết định chụp cảnh thuyền đánh cá thu lưới vào lúc bình minh. Phùng vô cùng mãn nguyện vì đã chụp dược một bức ảnh nghệ thuật toàn bích. Nhưng thật bất ngờ, từ chiếc thuyền thật đẹp ấy, lại bước xuống một đôi vợ chồng nhà chài thô kệch xăm xăm tìm đến bãi xe bọn lính nguỵ đã bbor lại năm 1975, rồi lão đàn ông dùng chiếc thắt lưng lính nguỵ thẳng tay quật vợ trong khi người vợ cam chịu, không hé răng, không né tránh. Phùng chưa kịp xông ra ngăn cản thì thằng Phác- con họ- đã lao tới giật chiếc thắt lưng, quất vào người cha để bênh mẹ. Cặp vợ chồng lại lặng lẽ trở lại thuyền. Biết Phùng đã chứng kiến sự tàn bạo của cha mình, thằng Phác đâm ra căm ghét anh. Ba hôm sau, cũng trong làn sương sớm, Phùng lại chứng kiến cảnh người đàn ông đánh vợ, và cảnh cô chị gái tước con dao găm mà thằng em định dùng làm vũ khí để bảo vệ mẹ. Không thể nén chịu thêm được nữa, Phùng xông ra buộc lão phải chấm dứt hành động vũ phu, độc ác và bị lão đánh trả để tự vệ. Phùng bị thương và được đưa về trạm y tế của toà án huyện để điều trị Người đàn bà được mời đến và chánh án Đẩu thuyết phục chị ly hôn với người chồng vũ phu, độc ác. Nhưng cả Đẩu lẫn Phùng đều ngỡ ngàng, ngạc nhiên trước sự lựa chọn dứt khoát của người đàn bà này kiên quyết không chịu ly hôn. Theo chị , người chồng trước đây là một thanh niên cục tính nhưng hiền lành. Chỉ vì cuộc sống quá quẫn bách nên đánh vợ để giải toả nỗi uất ức, bực dọc của mình. Vả lại, gia đình họ cũng có lúc vui vẻ, nhất là lúc nhìn đàn con được ăn no. Hai người cố thuyết phục nhưng người đàn bà vẫn không hề thay đổi ý kiến. Cuối cùng họ đã hiểu ra người đàn bà ấy dù có bị đánh đập tàn bạo đến mấy vẫn cần có người chồng, cần một người đàn ông sức vóc trên thuyền để có thể ra khơi kiếm sống và nuôi đàn con đông đúc. Câu chuyện thương tâm của người đàn bà nhà chài đã khiến Phùng đi từ ngạc nhiên, ngỡ ngàng đến cảm thông và thấm thía Không thể đơn giản và sơ lược khi nhìn nhận mọi hiện tương của cuộc đời. Cuối cùng Phùng đã có một tấm ảnh bổ sung vào bộ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” về “thuyền và biển” năm ấy. Tuy nhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh, người nghệ sĩ đều thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai và nếu nhìn lâu hơn bao giờ anh cũng thấy hình ảnh người đàn bà nghèo khổ, lam lũ bước ra từ tấm ảnh. TẮT CỐT TRUYỆN VỞ KỊCH HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT Lưu quang Vũ Trương Ba, gần 60 tuổi- là một người làm vườn tốt bụng, đặc biệt rất cao cờ. Do tắc trách, Nam Tào gạch bừa tên Trương Ba, khiến ông phải chết oan. Vợ Trương Ba lên Thiên đình kiện. Theo gợi ý của Đế Thích, để sửa sai, Nam Tào cho hồn Trương Ba sống lại, nhập vào thể xác hàng thịt, mới ngoài 30 tuổi, ở làng bên vừa mới chết. Trú nhờ thể xác hàng thịt, hồn Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái lí trưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng, gia đình Trương Ba ngày càng lủng củng. Đặc biệt, sống bằng thân xác hàng thịt, Trương Ba dần dà tiêm nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu vốn xa lạ với ông. Gay nhất là chị hàng thịt đòi hỏi Trương Ba phải là người đàn ông thực sự của chị . Lí trưởng nhân đấy, sách nhiễu vòi tiền; con trai Trương Ba ngày càng đắc ý, lấn lướt, coi thường bố. Ngược lại, vợ, con dâu, cháu nội Trương Ba không thể chịu nổi và dần dần xa lánh. Trương Ba vô đau khổ. Trước nghịch cảnh ấy, Trương Ba quyết định trả lại thân xác cho hàng thịt, cũng không chấp nhận nhập vào xác cu Tị , kiên quyết chấp nhận cái chết. 7. Tóm tắt phần trích giảng truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khốp Chiến tranh kết thúc, Xô-cô- lôp giải ngũ nhưng không muốn trở lại quê nhà. Anh đến chỗ của một đồng đội cũ, xin làm lái xe cho một đội vận tải. Tình cờ anh gặp chú bé Va-ni-a, bố mẹ đều chết trong chiến tranh, không nơi nương tựa. Ngay lập tức anh quyết định nhận Va-ni-a làm con. Chú bé ngây thơ tin rằng Xô-cô-lốp là bố đẻ của mình. Xô-cô-lôp yêu thương, chăm sóc chú bé thật chu đáo và xem nó là niềm vui lớn, niềm an ủi của mình. Tuy nhiên, anh vẫn bị ảm ảnh bởi những mất mát quá lớn trong chiến tranh. Hằng đêm anh vẫn mơ thấy vợ và các con của mình, thức giấc thì gối đẫm nước mắt ». Rồi một chuyện rủi ro xảy ra xe anh đụng phải con bò và anh bị thu hồi bằng lái, phải chuyển sang làm thợ mộc để kiếm sống. Theo lời mời của một người bạn khác ở Ka-sa-rư, anh dẫn bé Va-ni-a đến đó với hi vọng chừng nửa năm sau anh được cấp lại bằng lái mới. Dù thế, anh vẫn cố trấn tĩnh, vì không muốn để bé Va-ni-a biết được tâm trạng đau buồn của mình. tắt cốt truyện truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn – Chương I Vợ chồng Hoa Thuyên- chủ một quán trà nghèo- có đứa con trai độc nhất mắc bệnh lao rất nặng. Nhờ có người mách, vào một đêm thu lúc trời chưa sáng hẳn, Lão Hoa Thuyên tìm tới pháp trường để mua chiếc bánh bao tẩm máu người vừa chịu án chém về cho con ăn vì cho rằng ăn như thế nó sẽ khỏi bệnh. – Chương II Vợ chồng Hoa Thuyên cho bé Thuyên ăn thuốc. Thằng bé thật tiều tuỵ, đáng thương. Vợ chồng Hoa Thuyên đặt hết niềm tin tưởng vào sự hiệu nghiệm của phương thuốc này. – Chương III Trời vừa sáng, lúc bé Thuyên ăn thuốc xong, quán trà nhà lão Hoa Thuyên dần đông khách. Câu chuyện của bọn họ xoay quanh hai sự việc. Sự việc thứ nhất là tất thảy bọn họ đều tin tưởng vào công hiệu của phương thuốc bánh bao tẩm máu tươi mà thằng bé vừa ăn . Hai là chuyện bàn tán về người tù bị chém sáng nay. Qua lời của Cả Khang thì người bị chém tên là Hạ Du người trong địa phương. Hạ Du theo đuổi lí tưởng đánh đổ nhà Mãn Thanh , giành độc lập , chủ quyền cho người Trung Quốc Thiên hạ nhà Mãn Thanh chính là của chúng ta. Hạ Du bị người bà con tố giác và bị bắt. Trong tù Hạ Du vẫn tuyên truyền tư tưởng cách mạng . Tuy nhiên, tất cả những người có mặt trong quán trà hôm đó không một ai hiểu đúng về Hạ Du. Bọn họ cho Hạ Du là điên, là thằng khốn nạn. – Chương IV Vào một buổi sáng của ngày Thanh minh năm sau, mẹ Hạ Du và bà Hoa Thuyên cùng đến nghĩa địa dành cho người nghèo, người tù và người bị chém viếng mộ con. Hai người mẹ đau khổ bước đầu có sự đồng cảm . Họ rất ngạc nhiên khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa. Mẹ Hạ Du đã bắt đầu hiểu ra việc làm của con bà và tin tưởng những kẻ giết hại Hạ Du nhất định sẽ bị quả báo. 9. Tóm tắt truyện Ông già và biển cả của Hê-minh-uê Nhân vật trung tâm của tác phẩm là Xan-ti-a-gô -một “ông già” đánh cá người Cu ba 74 tuổi . Suốt 84 ngày liền, ông lão không bắt được một mống cá nào, dân làng chài cho rằng lão đã “đi đứt” vì vận rủi. Cậu bé Ma-nô-lin cũng bị cha mẹ không cho đi câu chung với lão nữa. Vào ngày thứ 85, lão quyết định ra khơi trước khi trời sáng. Lần này lão đi thật xa, đến tận vùng Giếng Lớn. Khoảng trưa, một con cá lớn cắn câu, kéo thuyền về hướng tây bắc. Sáng ngày thứ hai, con cá nhảy lên . Đó là một con cá kiếm lớn đến nỗi trước đây lão chưa từng nhìn thấy. Con cá lại lặn xuống, kéo thuyền chạy về hướng đông. Sang đến ngày thứ ba, con cá bắt đầu lượn vòng. Dù đã kiệt sức, lão kiên trì thu ngắn dây câu, rồi dốc toàn lực phóng lao đâm chết được con cá, buộc nó vào mạn thuyền dong về. Nhưng chẳng bao lâu nhiều đàn cá mập đánh hơi được đã lăn xả tới. Từ đó đến đêm, lão lại đem hết sức tàn chống chọi với lũ cá mập- phóng lao, vung chày, thậm chí dùng cả mái chèo để đánh- giết được nhiều con, đuổi được chúng đi, nhưng lão biết con cá kiếm của mình thì chỉ còn trơ lại một bộ xương. Đến khuya, đưa được thuyền vào cảng, về đến lều, lão vật người xuống giường và chìm vào giấc ngủ , rồi mơ về những con sư tử TÓM TẮT TRÍCH ĐOẠN ĐỌC HIỂU TRONG SÁCH GIÁO KHOA Sang đến ngày thứ ba, con cá bắt đầu lượn vòng. Bằng tất cả kinh nghiệm và sự khéo léo lão thận trọng thu dây câu nhưng lão biết vòng tròn còn khá lớn, con cá hãy còn xa tầm tay của lão. Từng tí một lão cố gắng thu hẹp vòng lượn của con cá và phát hiên rằng con cá liên tục ngoi lên trong lúc bơi. Sau cú quật đột ngột và cú nảy mạnh ở sợi dây, lão sợ con cá nhảy lên, chỗ lưỡi câu mắc vào miệng nó sẽ bị rộng hơn khiến nó có thể làm văng mất lưỡi câu. Nhưng con cá không nhảy lên mà bắt đầu lượn vòng chầm chậm. Lão cho đó là hoàn cảnh lí tưởng để mình nghỉ ngơi dưỡng sức . Đến vòng lượn thứ ba, lão lần đầu tiên thấy con cá như một cái bóng đen lướt qua dưới con thuyền, rồi trông thấy rõ hơn khi nó mấp mé mặt nước. Đến vòng lượn tiếp theo lão trông thấy lưng cá nhưng nó vẫn còn ở xa thuyền. Lão chuẩn bị lao, và thu dần dây câu. Đến mấy vòng lượn sau con cá tiến gần mạn thuyền . Dù đã kiệt sức, lão giẫm chân giữ dây câu, rồi dốc toàn lực phóng lao đâm chết được con cá. máu cả loang ra nhuộm sẫm cả vùng nước chung quanh. Con cá chết thẳng đơ, trắng bạc và bồng bệnh theo sóng. Không thể đưa con cá lên thuyền vì nó quá lớn, lão cẩn thận buộc nó dọc theo mạn thuyền, giương buồm đưa thuyền về bến. lão thật sự hài lòng và tự hào với thành quả lao động của mình. Xem thêm Tuyển tập bộ đề đọc hiểu ôn thi THPT Quốc gia ngữ văn Xem thêm Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án Xem thêm Tổng hợp những đề thi về các tác phẩm trọng tâm lớp 12 Chiếc thuyền ngoài xa, những đứa con trong gia đình, rừng xà nu, vợ chồng a phủ, vợ nhặt

văn xuôi lớp 12